KỶ NIỆM 72 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (7-5-1954 - 7-5-2026)
“Điện Biên Phủ” - biểu tượng của sức mạnh Việt Nam
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
Cách đây 72 năm, trên cánh đồng Mường Thanh, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, quân và dân ta đoàn kết một lòng, vượt qua muôn vàn khó khăn, kiên cường chiến đấu oanh liệt làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”.
Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; là kết quả của sự nỗ lực, bền bỉ đấu tranh của toàn quân, toàn dân ta, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
QUYẾT ĐỊNH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG TA
Từ giữa năm 1953, Bộ Chỉ huy Pháp ở Đông Dương bắt đầu thực hiện Kế hoạch Nava, xây dựng khối cơ động chiến lược mạnh nhằm giành quyền chủ động trên chiến trường chính.

Cuối tháng 9-1953, ta họp bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954, chủ trương chưa đánh địch ở đồng bằng, mà trước mắt cần phá âm mưu tập trung lực lượng của địch bằng cách đưa quân lên Tây Bắc, buộc chúng phải phân tán lực lượng.
Đến giữa tháng 11-1953, Đại đoàn 316 hành quân lên Tây Bắc mở Chiến dịch Lai Châu.
Nhận được tin này, Nava phán đoán hướng tiến công chủ yếu của ta là lên Tây Bắc, nên quyết định đánh chiếm Điện Biên Phủ, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh để ngăn chặn ta, bảo vệ được Tây Bắc và Thượng Lào.
Ngày 6-12-1953, sau khi nghe báo cáo của Tổng Quân ủy về phương án tác chiến tại Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị đã nhất trí mở chiến dịch và thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy.
Trên chiến trường Điện Biên Phủ, sức mạnh chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng được huy động tổng lực, đến mức cao nhất.
Năm 1964 - kỷ niệm 10 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định giá trị lịch sử, tầm vóc và ý nghĩa thời đại của sự kiện: “Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, anh dũng của quân và dân cả nước ta chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp Mỹ. Đây là chiến thắng vĩ đại của Nhân dân ta và cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay; chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng dân tộc nhất định thành công”. |
Qua 56 ngày đêm, chiến đấu anh dũng và gian khổ, ngày 7-5, quân và dân ta giành toàn thắng, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng với đường lối kháng chiến toàn diện, đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo.
Từ tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu đến hạ quyết tâm đánh thẳng vào chỗ mạnh nhất về quân sự của địch, Đảng ta đã khơi dậy và nhân lên sức mạnh lòng quả cảm và nghị lực phi thường, ý chí quyết chiến quyết thắng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam; cả tiền tuyến và hậu phương; tranh thủ được sự ủng hộ tích cực của nhân dân Lào, Campuchia và nhân dân tiến bộ trên thế giới vào thời điểm sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc phát triển đến đỉnh cao để tạo nên một kỳ tích cho dân tộc trong thế kỷ XX.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội ta. Với khởi đầu chỉ có 34 chiến sĩ với vũ khí thô sơ, tầm vông, giáo mác, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta không ngừng phát triển cả số lượng và chất lượng, càng đánh càng mạnh, từng bước làm thay đổi thế và lực.
Quân ta từng bước giành thắng lợi qua những chiến dịch quân sự lớn như: Việt Bắc Thu Đông, Biên Giới, Quang Trung, Nguyễn Huệ, Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc...
Tới Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung ương Đảng huy động 5 đại đoàn chủ lực và 26 vạn dân công, bằng sức mạnh tổng hợp của các yếu tố con người - vũ khí - trang bị, tổ chức lực lượng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, thực hiện phương châm “Đánh chắc, tiến chắc” liên tục tiến công, lần lượt đột phá, tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, tiến lên tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đưa sự nghiệp chống thực dân Pháp giành toàn thắng, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới.
Do đó, ba tiếng “Điện Biên Phủ” đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh Việt Nam.
Đặc biệt hơn nữa, sức mạnh làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, từ quân đến dân, từ hậu phương đến tiền tuyến.
Lần đầu tiên ta tập trung gần 5 sư đoàn chủ lực mạnh vào một trận đánh, động viên các chiến trường trong cả nước. Hơn 26 vạn đồng bào đã hăng hái đi dân công, đi thanh niên xung phong tham gia làm đường, vận tải tiếp tế, phục vụ chiến dịch, bảo đảm hậu cần cho một mặt trận xa hậu phương hơn 500 km, trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ, thiếu thốn, thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đồng thời cũng là chiến thắng của tình đoàn kết chiến đấu bền chặt, thủy chung, son sắt giữa quân đội, nhân dân 3 nước Đông Dương và sự đoàn kết, giúp đỡ, ủng hộ của các nước anh em và bạn bè quốc tế.
BÁO CHÍ - “BINH CHỦNG” ĐẶC BIỆT Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ
Làm nên thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ 72 năm về trước, báo chí đã đóng vai trò như một “binh chủng” đặc biệt tham gia trực tiếp vào cuộc chiến.

Đảm nhiệm vai trò thông tin tại hậu phương, Đài Tiếng nói Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã (hiện là Thông tấn xã Việt Nam), Báo Nhân Dân, Báo Quân đội nhân dân ở hậu phương đã làm rất tốt nhiệm vụ chính trị của mình.
Những bản tin chiến sự của Đài Tiếng nói Việt Nam được duyệt tại chỗ, phát sóng trực tiếp. Bộ phận vô tuyến điện liên hệ chặt chẽ suốt ngày đêm với Tổ Báo chí của Bộ Chỉ huy tiền phương.
Trong mọi thông tin đều không nhắc Chiến dịch Điện Biên Phủ mà dùng mật danh “Trần Đình”, “Ngọc” - bí danh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đài Tiếng nói Việt Nam lúc bấy giờ đã thành lập những nhóm công tác đặc biệt đặt tại Bố Lù, một bản nhỏ hẻo lánh ở tỉnh Bắc Kạn, với đầy đủ phát thanh viên, biên tập viên, người duyệt, trong lúc các chương trình đang phát mà có tin mới nhận thì dừng lại, phát ngay tin chiến sự. Phát thanh viên mở đầu với câu nói: “Mời đồng bào và chiến sĩ nghe tin chúng tôi vừa mới nhận được từ mặt trận…”.
Đặc biệt, trong thời gian 140 ngày đêm, từ ngày 28-12-1953 đến ngày 16-5-1954, Tòa soạn tiền phương Báo Quân đội nhân dân tại mặt trận Điện Biên Phủ đã in ấn và phát hành 33 số báo đặc biệt, trở thành kênh thông tin báo chí hiệu quả nhất, một mũi xung kích trong chiến dịch, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ở Điện Biên Phủ và cả nước.
Không chỉ thông tin về kết quả trận đánh, điều quan trọng là 33 số báo đã truyền đạt chỉ đạo trực tiếp từ Tổng Quân ủy (Quân ủy Trung ương), Bộ Tổng Tư lệnh, đứng đầu là Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp; từ đó chuyển hóa chỉ đạo của cấp trên thành hành động thực tiễn đến từng người chiến sĩ.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tầm nhìn chiến lược và kinh nghiệm làm báo cách mạng nên hết sức coi trọng mặt trận tuyên truyền, báo chí.
Báo Quân đội nhân dân đã tổ chức tòa soạn tiền phương trong rừng Mường Phăng nằm ngay cận kề hầm Đại tướng. Đại tướng thường xuyên chỉ đạo và là tác giả (bút danh Chính Nghĩa) của những bài xã luận, bình luận sắc bén trên 33 số báo như: “Kế hoạch Nava đã gặp những thất bại nặng nề” (3-1-1954), “Chúc mừng thắng lợi đầu năm của nhân dân Pathét Lào” (số 123, ngày 18-2-1954), “Từ Hòa Bình, Nà Sản tới Điện Biên Phủ và Luang Prabang hay là: Tài thao lược của Nava” (số 127, ngày 3-3-1954), “Những lục đục nội bộ trong phe địch, ngụy sau những thất bại quân sự vừa qua” (số 129, ngày 9-3-1954)...
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, báo chí không chỉ đảm nhiệm nhiệm vụ tuyên truyền, mà còn đi sâu vào những câu chuyện trong thực tiễn chiến đấu, các câu chuyện nhân văn có sức lay động lòng người và động viên tinh thần chiến sĩ. Chính điều đó đã làm nên sức mạnh của báo chí trong mọi thời đại.
HỒNG LÊ
(tổng hợp)


