ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975: BẢN ANH HÙNG CA CHÍNH NGHĨA VÀ ĐẤU TRANH TRƯỚC CHIÊU TRÒ “LỊCH SỬ”
Bài 1: Bảo vệ sự thật lịch sử trong “ma trận” thông tin số
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ thời khắc lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu mốc son chói lọi của Chiến thắng 30-4-1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trở thành bản anh hùng ca bất diệt trong dòng chảy lịch sử hiện đại Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với thời gian, các thế lực thù địch không ngừng tung ra những luận điệu xuyên tạc, nhằm làm sai lệch tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vì vậy, việc nhận diện, đấu tranh, bác bỏ các chiêu trò “lật sử” là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ sự thật lịch sử, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Không gian mạng đang trở thành nơi để các thế lực thù địch tung ra luận điệu xuyên tạc lịch sử được lan truyền nhanh chóng, nhằm bóp méo sự thật, phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta.
NHẬN DIỆN “VI-RÚT” XUYÊN TẠC
Cứ đến dịp tháng Tư lịch sử, khi cả dân tộc tự hào ôn lại bản anh hùng ca Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thì trên không gian mạng, các tổ chức phản động, thế lực thù địch lại tung ra những luận điệu xuyên tạc quen thuộc và ngày càng tinh vi hơn.
.jpg)
Đó là khai thác triệt để các nền tảng số hiện đại như: Facebook, TikTok, Zalo, livestream trực tiếp và hệ thống tài khoản ảo để khuếch tán thông tin sai lệch.
Không dừng lại ở đó, việc lợi dụng công nghệ mới như: AI, Deepfake để tạo dựng nội dung giả, cắt ghép hình ảnh, sản xuất video đánh vào tâm lý người xem, đặc biệt là giới trẻ.
Đáng lo ngại hơn, một bộ phận người dùng vì chạy theo lượt tương tác vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho việc lan truyền thông tin chưa được xác thực.
Các luận điệu xuyên tạc thường được lặp lại và biến tướng dưới nhiều hình thức, bóp méo lịch sử, sử dụng các khái niệm sai lệch như: “Chiến tranh ủy nhiệm”, “ngày quốc hận”, “cuộc nội chiến” và tiếp tục diễn giải phiến diện về các tài liệu, sự kiện lịch sử mà các lực lượng thù địch tự biên tập”.
Mới đây, Phòng An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Công an Đồng Tháp tiến hành làm việc, xử lý đối với ông L.T.T. (xã Tân Khánh Trung) và ông B.T.B. (xã Kim Sơn) để làm rõ hành vi sử dụng Facebook phát tán thông tin sai sự thật từ các diễn đàn phản động chuyên đăng tải các nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Vụ việc này cho thấy, không gian mạng không phải là “vùng ngoài pháp luật”, mọi hành vi đăng tải, lan truyền thông tin sai lệch đều bị phát hiện và xử lý theo quy định. |
Tất cả những luận điệu này đều nằm trong một kịch bản có chủ đích, tạo ra các “cơn sóng ngầm” trên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, tác động tư tưởng người dân.
Thực tế cho thấy, âm mưu, chiêu trò của thế lực thù địch không diễn ra trong “vùng trống kiểm soát”, mà luôn nằm trong tầm theo dõi chặt chẽ của cơ quan chức năng, đặc biệt là lực lượng an ninh mạng.
Bằng việc chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các hành vi phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, lực lượng Công an từng bước bóc gỡ những “mắt xích” lan truyền độc hại trên không gian mạng, góp phần cảnh báo, răn đe và nâng cao ý thức pháp luật cho người dân.
Do đó, mỗi người dùng mạng xã hội cần nâng cao ý thức, trách nhiệm, nhận diện đúng bản chất, thủ đoạn của các thế lực thù địch là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ sự thật lịch sử, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
BẢN ANH HÙNG CA CHÍNH NGHĨA
Từ các nguồn tư liệu lịch sử cho thấy, sau năm 1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuân thủ thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, hướng tới thống nhất đất nước bằng con đường tổng tuyển cử vào năm 1956.
Tuy nhiên, Mỹ và chính quyền Sài Gòn do Ngô Đình Diệm đứng đầu không tuân thủ các cam kết quốc tế, từng bước can thiệp, triển khai nhiều biện pháp chính trị - quân sự tại miền Nam, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ.

Trong thời gian tiến hành tổng tuyển cử, ngay từ năm 1954, Mỹ chưa trực tiếp tham dự vào chiến trường miền Nam, mà chỉ can thiệp dưới hình thức “cố vấn” cho chính quyền Sài Gòn, viện trợ kinh tế; tổ chức, xây dựng bộ máy quân sự và chính quyền tại chỗ.
Quá trình này gắn liền với các chính sách đàn áp, trong đó, có chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, dập tắt phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân ta. Sau đó, lần lượt tiến hành triển khai các chiến lược và chiến dịch quân sự với quy mô ngày càng mở rộng.
Với sự thật lịch sử đã được kiểm chứng, việc nhắc lại quá khứ không phải để khơi gợi hận thù, mà để nhận thức đúng bản chất cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam; qua đó, kiên quyết bác bỏ các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Chiến thắng 30-4-1975 mãi là mốc son chói lọi, kết tinh ý chí độc lập, tự do và khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam sau 21 năm trường kỳ kháng chiến. Giá trị và bản chất chính nghĩa của thắng lợi ấy đã được lịch sử khẳng định, không một sự phủ nhận hay xuyên tạc nào có thể làm thay đổi. |
Trong thư gửi Tổng thống J. Kennedy, tháng 2-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịch liệt tố cáo: “Vì Mỹ mà đất nước chúng tôi bị chia cắt làm đôi...
Vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam có những tòa án phát xít, những luật lệ bạo ngược, những máy chém lưu động giết người khắp thành thị và thôn quê, có những trại giam khổng lồ giam cầm và tra tấn hàng chục vạn người, giết chết hàng vạn người yêu hòa bình và yêu Tổ quốc.
Vì Mỹ mà có những sư đoàn quân lính với máy bay, xe tăng và đại pháo Mỹ đi càn quét liên miên, giết hại thường dân, đốt phá làng mạc”.
Trong quá trình tham chiến, quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn bắt đầu rải chất độc màu da cam dioxin khắp miền Nam Việt Nam. Đây là hành động chiến tranh tàn bạo, dã man, phi nhân tính, hủy diệt cuộc sống con người và môi trường sống, không chỉ một thế hệ mà rất nhiều thế hệ.
Một lưu ý khác, chính quyền Sài Gòn được hình thành và duy trì trong sự phụ thuộc lớn vào Mỹ, thiếu cơ sở pháp lý độc lập và thường xuyên biến động về bộ máy lãnh đạo, cho thấy mức độ chi phối từ Mỹ, phản ánh sự bất ổn trong cơ cấu quyền lực và định hướng chính trị tại miền Nam Việt Nam trong giai đoạn này.
Đó là sự thay đổi liên tiếp các đời tổng thống, từ ông Ngô Đình Diệm, Dương Văn Minh, Trần Văn Hương và cuối cùng là Nguyễn Văn Thiệu do Mỹ dựng lên để phục vụ cho lợi ích của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.
Do đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân ta không thể được nhìn nhận là một cuộc “nội chiến” như một số cách diễn giải, xuyên tạc của thế lực thù địch.
Đặc biệt, giai đoạn năm 1965 - 1973, Mỹ trực tiếp đưa quân đội và lực lượng của các nước phụ thuộc Mỹ tiến hành tham chiến tại miền Nam Việt Nam; đồng thời, mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân, dùng máy bay B.52 hủy diệt Hà Nội vào năm 1972.
Đến khi thi hành các điều khoản của Hiệp định Paris ký kết vào tháng 1-1973 với nội dung cơ bản là: Mỹ cam kết chấm dứt dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và các nước khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Tuy nhiên, dù đã rút quân đội về nước, nhưng Mỹ vẫn “cố tình” chỉ đạo, hậu thuẫn cho chính quyền Sài Gòn tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, viện trợ kinh tế, quân sự, vũ khí, phương tiện chiến tranh Mỹ để lại cho chính quyền Sài Gòn chống phá phong trào cách mạng.
Đồng thời, cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của Nhân dân ta được đông đảo các nước ủng hộ. Đặc biệt, ngay tại nước Mỹ, người dân lên tiếng đòi chấm dứt các hành động can thiệp quân sự ở Việt Nam, hình thành phong trào phản chiến lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, gây ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội với các hình thức đấu tranh như: Thanh niên Mỹ đốt thẻ quân dịch, bỏ ra nước ngoài để không phải đi lính...
Khẳng định rằng, bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc toàn diện của Nhân dân Việt Nam, chống lại sự xâm lược, can thiệp của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước. Đây là một thực tế lịch sử đã được chứng minh rõ ràng.
LÊ NGUYÊN
(còn tiếp)


