Ký ức một thời lửa đạn

Bài 1: Hồi ức của người chỉ huy

Chủ Nhật, 19/04/2026, 11:19 (GMT+7)
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về một thời lửa đạn vẫn vẹn nguyên trong tâm trí những người lính năm xưa. Ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (cũ), mỗi cựu chiến binh là một “nhân chứng sống”, mang theo những câu chuyện chân thực về gian khổ, hy sinh và một thời tuổi trẻ hào hùng vì Tổ quốc. Dẫu mỗi người một ký ức, họ vẫn gặp nhau ở niềm tự hào chung - đã góp phần vào đại thắng mùa Xuân 1975, mốc son chói lọi của dân tộc.

Nhân kỷ niệm những ngày tháng 4 lịch sử, chúng tôi tìm gặp và lắng nghe những hồi ức ấy - để tái hiện một thời khói lửa, và hơn hết, để thêm thấu hiểu, trân trọng giá trị của hòa bình hôm nay - thành quả được đánh đổi bằng biết bao máu xương của các thế hệ đi trước.

Giữa cái nắng của những ngày hè tháng 4, theo chân ông Bùi Minh Châu, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh (CCB) xã Phú Hựu, chúng tôi ghé thăm gia đình CCB Bùi Công Hiếu (tự Tư Chóng) - một người chỉ huy từng trực tiếp tham gia và lãnh đạo nhiều trận đánh quan trọng tại huyện Châu Thành, góp phần cùng cả nước tiến tới ngày toàn thắng.

Ở tuổi ngoài 80, sức khỏe đã giảm sút, nhưng trí nhớ của ông vẫn minh mẫn. Mỗi câu chuyện ông kể như một thước phim sống động tái hiện lại những năm tháng khói lửa. Với ông, đó không chỉ là ký ức, mà là một phần máu thịt của cuộc đời.

HAI NGÀY GIỮ TRẬN ĐỊA XẺO MÁT

CCB Bùi Công Hiếu sinh năm 1940 (người dân địa phương thường gọi là ông Tư), quê ở xã Hòa Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cũ (nay là xã Tân Nhuận Đông).

Cựu chiến binh Bùi Công Hiếu xem lại Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, ghi nhận những cống hiến của ông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ông Tư giác ngộ cách mạng từ sớm, tham gia phong trào Đồng khởi năm 1960, hoạt động bí mật đến tháng 8-1964. Sau đó, ông giữ các nhiệm vụ: Thư ký Chi bộ xã Hòa Tân, Trưởng ban Giao bưu huyện, Trưởng Văn phòng Huyện ủy (tháng 10-1965 - 1967), Trưởng Văn phòng Huyện đội (tháng 10-1966), Trợ lý Chính trị Huyện đội (đến hết năm 1968), Chính trị viên phó/Chính trị viên Huyện đội (1969 - 1973).

Theo ông Tư, giai đoạn 1957 - 1974, Châu Thành (Vĩnh Long) là địa bàn trung tâm, giữ vị trí chiến lược quan trọng. Nằm giữa tam giác Vĩnh Long - Sa Đéc - Cần Thơ, án ngữ Vùng 4 chiến thuật, nơi đây được xem là “bản lề” nối miền Đông và Tây Nam Bộ. 

Khu vực chữ V với hệ thống sông ngòi thuận lợi giúp ta cơ động, uy hiếp địch. Vì vậy, Châu Thành trở thành điểm tranh chấp ác liệt - là trọng điểm bình định của địch. 

Thời kỳ này, có rất nhiều trận đánh ác liệt diễn ra, nhưng ông nhớ nhất đó là trận 2 ngày đêm đánh đồn Xẻo Mát đầu năm 1975 - khi toàn chiến trường bước vào giai đoạn tổng tiến công và trận đánh đồn An Phú Thuận - trận cuối cùng của lực lượng địa phương, hòa nhịp cùng cả nước tiến tới thắng lợi lịch sử tháng 4-1975.

Bồi hồi nhớ lại trận đánh đồn Xẻo Mát năm xưa, ông Tư kể. Đó là vào ngày 2-2-1975, sau khi nhận lệnh của Huyện ủy tấn công đồn - nơi địch bố trí lực lượng cấp đại đội, tình thế đặt ra vô cùng chênh lệch. Lực lượng ta khi ấy rất mỏng, chỉ khoảng 20 đồng chí, trong đó có 17 tay súng, trong khi địch đông gấp ba lần với khoảng 60 quân. 

Trước tương quan lực lượng bất lợi, nếu đánh trực diện sẽ khó giành thắng lợi, đơn vị buộc phải lựa chọn cách đánh linh hoạt, dựa vào mưu lược để từng bước tiêu hao sinh lực địch, tạo thế chủ động trên chiến trường.

Theo đó, vào khoảng 3 giờ sáng ngày 2-2-1975, ta bất ngờ nổ súng, dùng B40 đánh thẳng vào các lô cốt của địch. Ban ngày, pháo 12 ly 8 dội xuống liên tục, giữ thế bao vây. 

Sang ngày thứ hai, địch điều quân chi viện. Ta đã dự đoán trước và bố trí phục kích tại các điểm chiến lược. Khi địch tiến sát, ông Tư lệnh dùng B40 bắn thẳng vào đội hình hơn chục tên địch đang áp sát, tiêu diệt 7-8 tên. Bị đánh bất ngờ, đội hình địch rối loạn, buộc phải rút lui vào khoảng 15 giờ cùng ngày.

“Đó là trận phòng ngự trận địa đánh trong tư thế quân mình ít nhưng chịu được 2 ngày, chặn không cho địch chi viện được đồn Xẻo Mát và phá tan trận địa đồn Xẻo Mát”, ông Tư kể thêm.

VƯỢT ĐÓI GIỮA CHIẾN TRƯỜNG: SÁNG KIẾN TỪ GIAN KHÓ

Theo ông Tư, trong những năm tháng kháng chiến ác liệt, đặc biệt giai đoạn 1969 - 1971, chiến trường miền Nam nói chung và huyện Châu Thành nói riêng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. 

Địch liên tục mở các cuộc càn quét, đánh phá dữ dội nhằm xóa bỏ lực lượng cách mạng, khiến nguồn tiếp tế lương thực gần như bị cắt đứt hoàn toàn.

Một kỷ niệm mà ông Tư nhớ mãi đó là trận đói 7 ngày đêm khiến quân ta vô cùng khó khăn. Đó là vào năm 1972, sau trận đánh đồn Cống số 7, đơn vị rút về ém quân tại Phú Thạnh, trú trong một vườn chuối. Địch huy động lực lượng lớn lùng sục, khiến quân ta không thể tiếp cận nguồn tiếp tế trong dân. 

“Đêm xuống, quân ta bí mật tiếp cận các nhà dân để tìm nguồn tiếp tế lương thực. Tuy nhiên, khi vừa đến nơi thì phát hiện địch đã bao vây, buộc phải nhanh chóng rút lui để bảo toàn lực lượng. 

Trở về nơi ẩn náu, trong hoàn cảnh thiếu thốn, thấy chuối mọc nhiều do người dân sơ tán bỏ lại, anh em tận dụng hái chuối nấu ăn cầm hơi.

Thế nhưng ăn mãi cũng ngán, một đồng chí đã nảy ra sáng kiến dùng dũa mài muỗng thành răng răng để nạo chuối xiêm già, nấu chung với cá thành món canh đổi vị. 

Nhờ cách đó, đơn vị cầm cự qua những ngày đói khát, duy trì sức chiến đấu suốt 7 ngày trong điều kiện dã chiến. Đến khi địch giãn bớt lực lượng, quân ta mới có điều kiện trở lại khu dân cư tìm thêm lương thực, tiếp tục hành quân.

“Đó là những ngày vô cùng gian khổ nhưng cũng đầy sáng tạo và tình đồng đội”, ông Tư nhớ lại.

AN PHÚ THUẬN - DẤU MỐC CỦA NGÀY GIẢI PHÓNG

Bước ngoặt lịch sử đến khi huyện Châu Thành quán triệt Nghị quyết của Trung ương về Chiến dịch Hồ Chí Minh vào tháng 4-1975, với tinh thần quyết liệt: “Tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã”. 

Theo ông Tư, lực lượng địa phương quân huyện khi ấy tuy danh nghĩa là một đại đội, nhưng qua nhiều trận đánh đã bị tiêu hao nặng, thực tế chỉ còn hơn 20 đồng chí. Với lực lượng mỏng như vậy, việc giải phóng cả một huyện khiến không ít người ban đầu không khỏi lo lắng.

Tuy nhiên, hòa cùng khí thế sục sôi của cả nước, toàn đơn vị nhanh chóng vượt qua tâm lý e ngại, đồng lòng quyết tâm tiến công. Trận đánh đồn An Phú Thuận - đồn tề xã - được xem là trận cuối cùng của lực lượng địa phương, hòa nhịp cùng cả nước tiến tới thắng lợi lịch sử tháng 4-1975.

Ông Tư kể, đồn An Phú khi đó do lực lượng tề xã đóng giữ. Trước tương quan lực lượng chênh lệch, ta tiếp tục lựa chọn cách đánh mưu lược. Khoảng 20 giờ đêm 29-4, đơn vị bí mật đào công sự bao vây quanh đồn địch. 

Đến 3 giờ sáng ngày 30-4, ta bất ngờ nổ súng, sử dụng B40 đánh vào lô cốt trung tâm, đồng thời bố trí khẩu đội 12,8 ly phục kích, gây cho địch nhiều tổn thất.

Đến 11 giờ trưa ngày 30-4, khi nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, ông Tư trực tiếp ra thuyết phục địch buông súng, trở về với Nhân dân. 

Tuy nhiên, lực lượng trong đồn vẫn cố thủ, chờ lệnh từ cấp trên. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, địch tháo chạy qua sông ra đồng. Lực lượng ta kịp thời nổ súng chặn đánh, khiến chúng rối loạn đội hình, tiếp tục bị tiêu hao.

 “Như vậy là coi như giải phóng - ta đã đánh được đồn An Phú Thuận, làm suy yếu đáng kể lực lượng địch, và cuối cùng, trước tình hình chung, chúng buộc phải tháo chạy”, ông Tư hồi tưởng.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng ký ức về những năm tháng chiến tranh vẫn vẹn nguyên trong trái tim người lính già. Đó là những mất mát, hy sinh không thể nào quên, nhưng cũng là niềm tự hào sâu sắc về một thời tuổi trẻ sục sôi, đoàn kết và kiên cường. 

Mỗi khi nhắc lại câu chuyện năm xưa, giọng ông Tư lại trở nên hào sảng, ánh mắt bừng lên ngọn lửa ký ức…

MỸ NHÂN

(còn tiếp)

Bình luận