Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chí Cường khảo sát hiện trạng các công trình thủy lợi khu vực phía Đông
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
(ĐTO) Sáng 7-5, Đoàn công tác do đồng chí Ngô Chí Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh làm Trưởng đoàn đi khảo sát hiện trạng các công trình thủy lợi - cấp nước tại khu vực phía Đông của tỉnh Đồng Tháp. Đi cùng Đoàn có đồng chí Nguyễn Thành Diệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.
Theo đó, Đoàn đến khảo sát các điểm: Khu vực cống Xuân Hòa (xã Bình Ninh), đây là cống đầu mối lấy nước khu vực Ngọt hóa Gò Công; Trạm bơm Bình Phan (xã An Thạnh Thủy); khu vực cống Tân Thuận Bình, vị trí dự kiến đặt cụm xi phông vượt kinh Chợ Gạo (xã An Thạnh Thủy, xã Tân Thuận Bình); Nhà máy nước - Trạm tăng áp Gò Công (phường Bình Xuân); cống Gò Gừa (xã Phú Thành)…

Qua hơn 50 năm đầu tư từ nhiều nguồn vốn, hệ thống thủy lợi từng bước hoàn thiện, hình thành mạng lưới công trình liên hoàn, khép kín, bao gồm các hạng mục chính như: Cống điều tiết, hệ thống kinh dẫn - luân chuyển nước, đê biển và đê sông.
Hệ thống này cơ bản đáp ứng yêu cầu kiểm soát nguồn nước, phục vụ phòng, chống hạn hán và xâm nhập mặn cho khoảng 44.000 ha đất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, hệ thống thủy lợi còn đóng vai trò là hạ tầng thiết yếu phục vụ định hướng phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các khu, cụm công nghiệp như: Bình Đông, Gia Thuận và Khu công nghiệp Dịch vụ dầu khí Soài Rạp, cũng như mở rộng không gian phát triển đô thị, dịch vụ và du lịch ven biển trong tương lai.

Tuy nhiên, do khu vực giáp biển và nguồn nước ngọt liên thông của tỉnh với vùng dự án bị chia cắt bởi kinh Chợ Gạo, vào cuối mùa khô, đặc biệt là khi xâm nhập mặn gia tăng vượt qua cống Xuân Hòa, toàn vùng thiếu nguồn nước ngọt bổ sung, tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh.
Hiện tại, nguồn nước ngọt cấp cho vùng Ngọt hóa Gò Công chủ yếu được lấy qua cống Xuân Hòa và phân phối thông qua các trục kinh chính gồm: Xuân Hòa - Cầu Ngang, Vàm Giồng, Kinh 14, kinh Trần Văn Dõng, kinh Salisette, rạch Sơn Qui - Láng Nứa cùng hệ thống kinh, rạch nội đồng.
Hiệu quả vận hành cống Xuân Hòa chịu tác động lớn của điều kiện thủy lực và mức độ xâm nhập mặn trên sông Tiền, trong điều kiện xâm nhập mặn trên sông Tiền có xu hướng gia tăng, lấn sâu, có thể đạt khoảng 60 - 70 km (đến khu vực xã Kim Sơn cách hệ thống Gò Công đến hơn 45 km) dẫn đến nước mặn bao quanh, kéo dài và không có nguồn nước ngọt cấp dẫn đến thiệt hại lớn trong sản xuất và dân sinh, mặc dù tỉnh đã chủ động mọi giải pháp tích trữ nước trong vùng Ngọt hóa Gò Công.

Đồng thời, theo quy hoạch tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, khu vực Gò Công phải bảo đảm cấp nước cho nông nghiệp, dân sinh; đồng thời, phục vụ 9 khu, cụm công nghiệp (khoảng 5.000 ha) và phát triển đô thị, dịch vụ, du lịch ven biển, với nhu cầu khoảng 300.000 m³/ngày đêm. Trong khi đó, năng lực cấp nước hiện chỉ đạt khoảng 100.000 m³/ngày đêm (khoảng 1/3 nhu cầu).
Để bảo đảm nhu cầu cấp nước sinh hoạt và công nghiệp theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực Ngọt hóa Gò Công, khi triển khai Dự án Chuyển nước ngọt qua kinh Chợ Gạo sẽ tạo nguồn nước thô ổn định, tạo điều kiện thu hút Dự án Đầu tư Nhà máy cấp nước mới với công suất từ 50.000 đến 100.000 m³/ngày đêm, đáp ứng nhu cầu trong tương lai.
Theo nghiên cứu, đánh giá của ngành Nông nghiệp, để tạo nguồn nước thô ổn định phục vụ cho cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và sản xuất trong mùa khô, cần tiếp tục nghiên cứu triển khai các hệ thống công trình trữ nước Gò Gừa, Rầm Vé thuộc địa bàn xã Vĩnh Bình, xã Phú Thành và phường Bình Xuân.

Qua khảo sát thực tế, đồng chí Ngô Chí Cường đề nghị, về định hướng triển khai Dự án Chuyển nước ngọt qua kinh Chợ Gạo cấp nước cho vùng Ngọt hóa Gò Công, trước mắt cần tập trung nạo vét, khơi thông dòng chảy để bảo đảm lưu lượng nước phục vụ nhu cầu trước mắt.
Tinh thần chung là phải tính toán bảo đảm lâu dài, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp và nhu cầu cấp nước. Trong đó, trọng tâm hiện nay là đầu tư hệ thống xi phông và các tuyến ống truyền tải công suất lớn để bảo đảm dòng chảy thông suốt, thay thế cho khả năng tự chảy tự nhiên khi điều kiện không còn thuận lợi. Các phương án kỹ thuật phải được nghiên cứu kỹ, có tính dự phòng, kể cả khả năng mở thêm tuyến thẳng để tránh khu vực có nguy cơ ô nhiễm hoặc hạn chế dòng chảy.
Trong quá trình triển khai, cần tận dụng, kết nối đồng bộ với các công trình hiện hữu như: Hệ thống cống, tuyến ống và công trình điều tiết đang vận hành; đồng thời, chủ động phương án ứng phó trong điều kiện thời tiết cực đoan, xâm nhập mặn hoặc khi phải đóng cống điều tiết.
Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển công nghiệp, dân sinh và bảo đảm an ninh nguồn nước, do đó, các đơn vị liên quan cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện phương án kỹ thuật, tính toán hiệu quả đầu tư và sớm tham mưu đề xuất chủ trương triển khai.
HÀ NAM


