Biến giấc mơ ghép tạng tại Việt Nam thành kỳ tích trong đời thực
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
Ghép tạng là 1 trong 10 thành tựu y học lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Đây là giải pháp duy nhất mang lại hy vọng sống cuối cùng của người bệnh khi các phương pháp khác không còn hiệu quả. Tại Việt Nam, ban đầu ghép tạng chỉ là ước mơ, đến nay, chúng ta bắt đầu làm chủ những kỹ thuật hiện đại nhất.

Phép màu tái sinh cuộc đời nữ bác sĩ trẻ
Chị Nguyễn Thị Phương Nhi, 32 tuổi, là bác sĩ sản khoa, công tác tại Bệnh viện Đa khoa Phương Bắc, Tuyên Quang. Chị từng không nghĩ rằng, "hành trình cứu người" của mình lại có ngày phải tạm dừng trước một bước ngoặt sinh tử.
Sáu năm trước, chị được chẩn đoán mắc bệnh cơ tim giãn – căn bệnh âm thầm bào mòn chức năng tim, đẩy người bệnh đến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Thời gian phát hiện mắc bệnh đúng trong lần chị mang thai đầu tiên.
Sau khi sinh con, chị kiên trì điều trị nội khoa, bền bỉ chống chọi với những tháng ngày mệt mỏi kéo dài. Bất ngờ, một cơn suy tim cấp ập đến, tình trạng bệnh trở nên nguy kịch, buộc chị phải chuyển tuyến điều trị. Tại đây, các bác sĩ xác định con đường duy nhất để giữ lại sự sống cho chị là ghép tim.
Chồng chị cũng là một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Hai vợ chồng cùng học tại Đại học Y Thái Bình, sau đó công tác tại Tuyên Quang. Anh là người dân tộc Khơ Mú, ở Điện Biên, còn chị ở Thanh Hóa. Đôi vợ chồng trẻ có một cô con gái – là nguồn động lực lớn nhất giúp chị Nhi bám víu vào sự sống trong những ngày dài trên giường bệnh.
Giữa lằn ranh sinh tử, phép màu đã tìm đến chị. Sau 5 năm chống chọi với bệnh cơ tim giãn, chị được hồi sinh nhờ một ca ghép tim từ người hiến chết não. Tháng 1-2025, chị được ghép tim thành công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Ba tháng sau ghép, chị đã quay lại công việc hàng ngày, đó là thăm khám và điều trị ngoại trú cho nhiều người bệnh. Đến nay, chị cảm nhận rõ sức khỏe thay đổi từng ngày, khỏe khoắn hơn, tinh thần lạc quan hơn rất nhiều, nhất là khi được quay trở lại công việc phục vụ người dân.
Khoác lại chiếc áo blouse trắng với trái tim được hồi sinh, chị Nhi xem đó như một lời tri ân lặng thầm và sâu sắc tới gia đình người hiến tạng, đã trao cho chị không chỉ một trái tim, mà cả một cuộc đời mới.
Chị Nhi là 1 trong nhiều người bệnh ở nước ta được hồi sinh từ lằn ranh sinh tử trong những năm trở lại đây, nhờ kỹ thuật ghép tạng đỉnh cao của nhân loại.
Ghép tạng là một trong 10 thành tựu y học lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Đây là giải pháp duy nhất mang lại hy vọng sống cuối cùng của người bệnh khi các phương pháp khác không còn hiệu quả.
Từ ước mơ đến tầm nhìn chiến lược…

Từ ước mơ đến tầm nhìn chiến lược…
Trên thế giới bắt đầu nghiên cứu ghép tạng từ đầu thế kỷ XX, đến năm 1954 bắt đầu ghép thận thành công; năm 1963 ca ghép gan đầu tiên được tiến hành và đến năm 1967, ca ghép gan đầu tiên thành công.
Tại Việt Nam, từ những năm 60 thế kỷ XX, y học Việt Nam còn thiếu thốn về trang thiết bị, cơ sở vật chất, thuốc men và nhân lực. Ghép tạng khi đó chỉ là ước mơ đối với giới y học trong nước và bệnh nhân bị suy tạng cần điều trị thay thế.
Tuy nhiên, với tầm nhìn chiến lược về ghép tạng tại Việt Nam từ những năm 1970, Giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Tùng, Cố Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu ghép tạng và đã ghép thành công ở động vật từ năm 1965-1966.
Mong muốn của GS Tôn Thất Tùng là thực hiện ghép gan, thận cho người vào những năm 1970. Song, thời gian đó, cả nước phải tập trung nhân lực, vật lực cho kháng chiến nên ý nguyện của Giáo sư không thực hiện được.
Mặc dù vậy, với sự kiên định, bản lĩnh, tầm nhìn lớn, GS Tôn Thất Tùng đã gửi các chuyên gia đi học ở nước ngoài với nhiều chuyên ngành khác nhau như nội, ngoại, gây mê hồi sức, chẩn đoán hình ảnh... nhằm chuẩn bị sẵn lực lượng cho ngành ghép tạng nước nhà.

Và những dấu ấn kỳ tích trong đời thực
Theo Anh hùng lao động, Thầy thuốc nhân dân, GS Nguyễn Tiến Quyết, Phó Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam, chuyên gia đầu ngành về ghép tạng và hơn 40 năm kinh nghiệm về chuyên khoa ngoại tiêu hóa - gan mật tụy, đến năm 2000, khi có đủ cơ sở vật chất, nhân lực, vật lực, chúng ta đã tiến hành ghép tạng trên động vật rất hiệu quả. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã triển khai thành công nghiên cứu ghép gan thực nghiệm trên động vật (lợn). Hoạt động này nằm trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nước: "Nghiên cứu một số vấn đề ghép gan để thực hiện ghép gan trên người tại Việt Nam".
Sự kiện đã mở ra một cơ hội lớn cho kỹ thuật ghép gan của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nói riêng và cả nước nói chung. Đó cũng là kết quả ngọt ngào sau những chuỗi ngày miệt mài, say mê "khổ cứu" của các y bác sĩ.
Đến ngày 6-11-2007, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thực hiện ca ghép gan người lớn (47 tuổi) đầu tiên ở Việt Nam, với sự hợp tác giúp đỡ của các chuyên gia đến từ bệnh viện trường Đại học quốc gia Đài Loan. Các bác sỹ đã thực hiện lấy một phần gan của người cháu để ghép cho người bệnh. Thành công của ca ghép đã mở ra triển vọng cứu chữa những bệnh nhân bị ung thư gan, gan xơ do viêm gan virus tại Việt Nam.
Ngày 22-5-2010, Bệnh viện đã tiến hành ghép gan và thận (từ người cho chết não) cho 3 bệnh nhân, đánh dấu bước ngoặt phát triển của lĩnh vực ghép tạng Việt Nam. Đây là ca ghép gan từ người cho chết não đầu tiên ở Việt Nam và cũng là ca lấy đa tạng để ghép cho nhiều bệnh nhân. Từ đó, kỹ thuật lấy đa tạng từ người cho chết não để ghép trở thành thường quy tại Bệnh viện.
Ngày 4-9-2015, lần đầu tiên trong lịch sử y học Việt Nam ghi nhận ca ghép tạng thành công mà tim và gan của người hiến được vận chuyển xuyên Việt, 1.700 km bằng máy bay. Vượt qua hàng nghìn km trong sự lo âu, căng thẳng, kịch tính, qua bàn tay, khối óc và trái tim của những người thầy thuốc, 'trái tim', 'lá gan' từ những người hiến tạng đã tái sinh cuộc đời nhiều bệnh nhân suy tạng.

Ngày 12-12-2018, lĩnh vực ghép tạng Việt Nam tiếp tục trải qua cảm xúc đặc biệt khi lần đầu tiên thực hiện ghép đồng thời 5 tạng cùng thời điểm. Đặc biệt, các ca ghép tạng đều do các bác sĩ của Việt Nam thực hiện mà không có sự hỗ trợ của chuyên gia nước ngoài. Tổng số nhân lực tham gia đồng thời 5 ca ghép tạng lên tới gần 500 người.
Ngày 23-8-2019 - thời điểm đánh dấu mốc Bệnh viện thực hiện thành công 15 ca ghép tạng chỉ trong 6 ngày. Đến ngày 17-12-2019, Bệnh viện tiếp tục thực hiện thành công ca ghép gan – thận đồng thời đầu tiên tại Việt Nam.
Đầu tháng 2-2021, các bác sỹ tiếp tục ghép tim thành công cho bệnh nhi nhỏ tuổi nhất Việt Nam thời điểm đó. Bệnh nhân chỉ nặng 16kg. Tháng 2-2023, các y bác sĩ tiếp tục thực hiện thành công ca ghép đa tạng tim - thận đầu tiên tại Việt Nam.
Dấu ấn ngày 11-1-2024, trong chưa đầy 24 giờ, tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã diễn ra 2 ca lấy mô, tạng từ người cho chết não để mang lại sự sống cho 8 bệnh nhân. Tháng 10-2024, lần đầu tiên tại Việt Nam thực hiện ghép đồng thời tim – gan cho người bệnh suy đa tạng 41 tuổi.
Tính đến thời điểm tháng 12-2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã thực hiện thành công 115 ca ghép tim từ người hiến chết não, 9 ca ghép phổi từ người hiến chết não, 152 ca ghép gan từ người hiến chết não, 25 ca ghép gan từ người hiến sống, 1.878 ca ghép thận và 242 ca ghép thận từ người hiến chết não.
Cũng tính đến tháng 12-2025, Bệnh viện ghi nhận số trường hợp đồng ý hiến tạng chết não gia tăng, với 156 trường hợp.
Đặc biệt, từ sau lễ phát động phong trào "Đăng ký hiến tặng mô, tạng cứu người - Cho đi là còn mãi" (tháng 5-2024) có sự tham gia của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, công tác vận động hiến tạng thông qua Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người và tại các bệnh viện ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực.
"Mỗi gia đình có người nhà không may bị tai nạn, chấn thương sọ não nặng khi được giải thích, tư vấn vận động hiến tạng đều có thái độ hợp tác, sẵn sàng tham gia vào quy trình hồi sức và đánh giá chết não", PGS.TS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chia sẻ.
Những kết quả này đã góp phần tô đậm thêm thành tựu của ngành y tế Việt Nam. Khi nghĩa cử cao đẹp của gia đình người hiến cùng với việc làm chủ chuyên môn cao, sự chuẩn bị chu đáo về trang thiết bị, hậu cần và vai trò điều phối tạng đã đem đến hy vọng về cuộc sống mới cho hàng nghìn bệnh nhân chờ ghép tạng.
Hơn 30 cơ sở đủ điều kiện ghép tạng
Đến nay, sau nhiều thập kỷ phát triển, Việt Nam có hơn 30 bệnh viện đủ điều kiện ghép tạng, trong đó có 9 cơ sở đủ điều kiện ghép gan, 5 cơ sở ghép tim, phổi. Các trung tâm hàng đầu tập trung chủ yếu tại Hà Nội và TPHCM như Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Bạch Mai…
Mặc dù kỹ thuật ghép tạng còn chưa được thực hiện đồng đều tại các cơ sở, tuy nhiên tỷ lệ thành công và thời gian sống của người bệnh sau ghép rất cao, sánh ngang với nhiều nước trên thế giới. Trong đó, có bệnh nhân được ghép phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương đang sống khỏe mạnh sau 8 năm được ghép.
"Gần như các tạng trong cơ thể con người, Việt Nam đều thực hiện ghép được và ghép rất hiệu quả. Điều này mở ra kỳ vọng rất lớn cho người bệnh. 1 ca chết não, các bác sĩ Việt Nam hiện nay có thể ghép ngay lập tức cứu 6-7 người khác. Trước đây, từ năm 2007, mỗi ca ghép gan phải huy động tới hàng trăm nhân viên y tế thì đến nay chỉ 10-15 người có thể tiến hành ghép xuyên đêm được", GS Nguyễn Tiến Quyết chia sẻ.
Ghép tạng đã trở thành hiện thực với những bước phát triển đỉnh cao của y học nước nhà và mở ra cánh cửa hồi sinh cho người bệnh. Việt Nam đã làm chủ kỹ thuật và thực hiện ghép thành công nhiều loại tạng như: thận, gan, tim, phổi, ruột và chi thể (tay). Ngoài ra, Việt Nam cũng thực hiện các kỹ thuật ghép mô như giác mạc, da và tế bào gốc.
Theo baochinhphu.vn


