“Tàn nhưng không phế” - câu nói ấy đã trở thành phương châm sống của chú Nguyễn Văn Mười (ngụ phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp), thương binh hạng 1/4 từng để lại đôi chân nơi chiến trường biên giới Tây Nam ác liệt.
Câu chuyện của chú là minh chứng sống động cho phẩm chất của người lính “Bộ đội Cụ Hồ” giữa đời thường…
KÝ ỨC CHIẾN TRƯỜNG BIÊN GIỚI
Trong căn nhà tình nghĩa gắn bó hơn 20 năm, đôi mắt đã mờ theo năm tháng nhưng giọng kể của chú Nguyễn Văn Mười vẫn rành rọt khi nhắc về quãng đời tuổi trẻ khoác áo lính.

Chú Mười sinh năm 1963 tại khóm Vĩnh Phước, phường Sa Đéc. Năm 1979, khi đang học lớp 10 Trường cấp 3 Sa Đéc, đất nước bước vào giai đoạn tổng động viên bảo vệ biên giới Tây Nam trước các cuộc tàn sát dã man của quân Pol Pot tại Ba Chúc (An Giang) và nhiều địa phương vùng biên.
“Lúc đó không ai nghĩ đủ tuổi hay chưa đủ tuổi. Có lệnh tổng động viên là lên đường. Khi ấy, tôi mới 17 tuổi rưỡi”, chú Mười nhớ lại.
Ngày ấy, việc tuyển quân được thực hiện bằng hình thức bắt thăm. Trong lớp khoảng 40 học sinh (hơn 20 học sinh nam), chỉ có duy nhất một lá phiếu ghi chữ “có”.
Người bắt trúng lá phiếu ấy sẽ nhập ngũ. “Lớp chú chỉ có mình chú bắt trúng”, chú Mười kể và nở nụ cười hiền hòa dễ mến.
Sau thời gian tập kết tại Trường Trưng Vương, chú được biên chế về Sư đoàn 868 Tiền Giang, nay là Sư đoàn 8. Ban đầu, chú được huấn luyện như một chiến sĩ bộ binh, sau đó được chuyển sang ngành thông tin. Khoảng 1 năm sau, chú tiếp tục được điều sang ngành Quân y, học dược và công tác tại bộ phận dược của Sư đoàn 4, Quân khu 9.
Năm 1980, chú Mười cùng đơn vị sang Campuchia làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực biên giới giáp Thái Lan, truy quét và ngăn chặn tàn quân Pol Pot quay trở lại nội địa Vương quốc Campuchia.
Theo lời chú kể, những năm tháng nơi chiến trường vô cùng gian khổ. Mùa mưa chủ yếu củng cố lực lượng, còn mùa khô là thời điểm diễn ra các trận đánh ác liệt nhất.
Đầu năm 1982, trong một chiến dịch mùa khô tại khu vực Kokong (Campuchia), người lính trẻ Nguyễn Văn Mười nhận nhiệm vụ vận chuyển thuốc men bằng tàu quân sự.
Chiếc tàu vốn là tàu đánh cá Thái Lan bị thu giữ và trưng dụng để chở quân nhu, quân khí phục vụ chiến dịch. Khi tàu di chuyển gần khu vực giáp biên giới Thái Lan vào khoảng 18-19 giờ tối, phía bên kia phát hiện tàu giống tàu Thái nhưng người trên tàu là bộ đội Việt Nam nên nổ súng trước.
Cuộc đụng độ diễn ra bất ngờ. Tàu cố quay vào bờ phía Campuchia nhưng bị mắc đá và trúng đạn. Bộ đội buộc phải rời tàu lội vào bờ. Không ngờ lực lượng Pol Pot đã phục kích sẵn.
Trong tình thế lực lượng mỏng, vũ khí hạn chế, cả nhóm vừa chiến đấu vừa tìm đường rút quân. Giữa lúc hỗn loạn, chú cùng đồng đội lọt vào bãi mìn địch cài sẵn.
Tiếng nổ vang lên giữa rừng biên giới. Sức ép khủng khiếp của mìn khiến chú mất cả 2 chân. 2 đồng đội đi cùng cũng bị thương nặng, 1 người trúng đạn ngực, 1 người gãy chân.
May mắn, lực lượng tiếp viện từ chốt độc lập gần đó kịp thời tiếp cận đưa cả 3 đi cấp cứu. Năm ấy, chú Nguyễn Văn Mười vừa tròn 19 tuổi.
NGHỊ LỰC CỦA NGƯỜI LÍNH
Sau thời gian điều trị, năm 1986, chú trở về Sa Đéc với đôi chân vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Những ngày đầu trở về quê hương là quãng thời gian đầy khó khăn đối với người thương binh trẻ.

“Từ một người khỏe mạnh, giờ mất cả 2 chân nên buồn lắm”, chú Mười trải lòng.
Thế nhưng, chú không cho phép bản thân trở thành gánh nặng của gia đình và xã hội. Sau vài năm an dưỡng tại Cao Lãnh, chú quyết định lên Thủ Đức học nghề điện tử với suy nghĩ phải có một công việc để tự nuôi sống bản thân.
Học nghề xong, chú trở về làm hợp đồng tại cơ sở dịch vụ điện tử ở khu vực Cầu Sắt (phường Sa Đéc). Thời điểm ấy, tivi màu còn hiếm, nghề sửa chữa điện tử phát triển nên công việc giúp chú có thêm thu nhập bên cạnh chế độ thương binh.
Gần 30 năm gắn bó với công việc sửa chữa điện tử, người thương binh Nguyễn Văn Mười vẫn cần mẫn lao động bằng chính đôi tay của mình để tự nuôi sống bản thân.
“Tàn nhưng không phế” - câu nói ấy như được viết nên từ chính cuộc đời chú Nguyễn Văn Mười. Đến nay, tuổi đã ngoài 60, đôi mắt yếu dần nên chú không thể tiếp tục công việc sửa chữa điện tử.
Mặc dù những di chứng từ vết thương của đôi chân vẫn đau nhức khi trái gió trở trời nhưng chú vẫn giữ vững tinh thần lạc quan trước cuộc sống.
Hiện chú Mười sống cùng gia đình người em út trong căn nhà tình nghĩa được Nhà nước hỗ trợ xây dựng hơn 20 năm trước.
Nhắc đến sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương dành cho thương binh, chú Mười xúc động: “Nếu không có Nhà nước, địa phương quan tâm thì tôi khó vượt qua được đến hôm nay”.
Hơn 40 năm trôi qua kể từ ngày người học sinh năm nào rời ghế nhà trường lên đường nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, tuổi thanh xuân hiến dâng cho Tổ quốc.
Chiến tranh có thể lấy đi đôi chân của người lính trẻ, nhưng không thể lấy đi nghị lực và ý chí không khuất phục trước khó khăn của người lính “Bộ đội Cụ Hồ”.
MỸ NHÂN


