Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp kiến nghị cụ thể hóa chính sách phát triển công nghiệp văn hóa và an toàn thực phẩm
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
(ĐTO) Chiều 24-10, các đại biểu Đoàn ĐBQH Tổ 10 gồm Đoàn Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) 2 tỉnh Đồng Tháp và Nghệ An tiếp tục thảo luận về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
GÓP Ý DỰ ÁN LUẬT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA
Cho ý kiến dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Trịnh Thị Mùi, ĐBQH tỉnh Đồng Tháp góp ý: Tại khoản 3 Điều 14 có đề cập đến các Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, các nghệ nhân và những người thực hành truyền dạy các di sản văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên, dự thảo mới chỉ tính đến lực lượng tại các tỉnh, thành phố lớn hoặc khu vực trung tâm. Trong khi đó, tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa có nhiều nghệ nhân giỏi nghề. Họ vẫn đang làm rất tốt công tác truyền dạy văn hóa nghệ thuật truyền thống. Do đó, dự thảo luật cần bổ sung quy định ghi nhận đối với các nghệ nhân giỏi nghề, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa; cần có những chính sách ưu tiên cụ thể để họ tham gia sâu hơn vào công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp văn hóa.

Về Điều 24 (Sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm), đại biểu cho rằng, quy định tại điều này vẫn còn mang tính chất chung chung, chưa cụ thể. Nếu danh mục quy định chung chung như hiện tại thì sẽ rất khó hiểu và khó áp dụng. Những người chưa hiểu sâu về lĩnh vực công nghiệp văn hóa khi đọc luật cũng sẽ không thể hình dung được danh mục sản phẩm nào là thực sự cần thiết và phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
Liên quan đến định nghĩa nhân lực ngành công nghiệp văn hóa, đại biểu Lê Trung Quân, ĐBQH tỉnh Đồng Tháp cho rằng, các định nghĩa về “nhân lực công nghiệp văn hóa”, “nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp văn hóa” và “nhân tài công nghiệp văn hóa” vẫn mang nặng tính định tính hơn là định lượng. Việc thiếu tiêu chí định lượng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc áp dụng các chế độ thụ hưởng liên quan đến chính sách thuế của cá nhân ở các điều khoản tiếp theo.

Đồng thời, cách định nghĩa về “nhân lực chất lượng cao” hiện nay rất khó phân biệt với “nhân lực tham gia vào công nghiệp văn hóa” nói chung. Nếu tiếp tục giữ các định nghĩa này, đề nghị cần làm rõ thêm các tiêu chí định lượng; nếu không có cơ sở tham chiếu rõ ràng thế nào là “cao” và thế nào là “chưa cao” thì sẽ gây rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi.

Liên quan đến quy định về chính sách hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm văn hóa ra thị trường quốc tế, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm, ĐBQH tỉnh Đồng Tháp cho rằng, phát triển công nghiệp văn hóa, không chỉ dừng lại ở việc phục vụ nhu cầu trong nước mà phải hướng tới xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài. Việc xuất khẩu sản phẩm văn hóa không những mang lại giá trị kinh tế to lớn mà còn là kênh ngoại giao văn hóa hữu hiệu, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế.
Đại biểu dẫn chứng, kinh nghiệm quốc tế như ở Nhật Bản cho thấy, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tới 50% kinh phí đối với các tác phẩm điện ảnh xuất khẩu được ra nước ngoài. Do vậy, luật cần có các chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đưa sản phẩm văn hóa ra thị trường thế giới.

Liên quan đến quy định về nguồn lực để phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Nguyễn Thị Uyên Trang, ĐBQH tỉnh Đồng Tháp cho rằng cần xác định thật đầy đủ nguồn lực mới có thể đẩy mạnh việc phát triển công nghiệp văn hóa. Tại Điều 4, dự thảo đã có các chính sách về hạ tầng, nhân lực, sản phẩm, quy định đầu tư; còn Điều 6 đã ghi nhận quyền tiếp cận nguồn lực. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, ngoài nguồn lực tài chính và nhân lực, thì di sản tri thức, năng lực sáng tạo và mạng lưới cộng đồng chính là nguồn lực cốt lõi để tạo nên sản phẩm, tạo dựng bản sắc riêng cho từng địa phương trong phát triển văn hóa cũng như du lịch. Vì vậy cần bổ sung cơ chế tiếp cận, khai thác hợp pháp và bảo vệ quyền lợi của chủ thể nắm giữ di sản.
Liên quan đến không gian sáng tạo, đại biểu cho rằng cần tạo hành lang pháp lý thuận lợi để không gian sáng tạo được hình thành, đi vào hoạt động và duy trì ổn định. Khi chuyển đổi công năng các công trình hiện hữu thành không gian sáng tạo, cần quy định rõ căn cứ pháp lý về đất đai, tài sản công, thời hạn sử dụng và phương án xử lý tài sản cải tạo sau khi kết thúc dự án.
Bên cạnh đó, đề nghị bổ sung nội dung: “hỗ trợ bao gồm chi phí sử dụng không gian sáng tạo, sản xuất, trình diễn, truyền nghề và hạ tầng dùng chung gắn với hoạt động thực tế và kết quả có thể kiểm chứng”. Có như vậy mới bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sáng tạo có căn cứ pháp lý để hoạt động ổn định và khả năng tiếp cận các không gian này được tốt hơn...
GÓP Ý DỰ ÁN LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM (SỬA ĐỔI)
Góp ý cho dự án Luật An toàn thực phẩm, đại biểu Nguyễn Thị Hồng Phượng, ĐBQH tỉnh Đồng Tháp, cho rằng tại khoản 1 Điều 4, dự thảo luật quy định: “bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng; trách nhiệm của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội”, quy định này còn chung chung. Theo cách thể hiện như dự thảo thì chưa xác định rõ trách nhiệm phối hợp tiếp nhận kiến nghị và phản hồi kết quả giám sát của các tổ chức. Nếu chỉ quy định như thế, khi xảy ra vi phạm sẽ không rõ ràng cơ quan nào có trách nhiệm xử lý và cơ quan nào thực hiện công tác giám sát. Do đó, đại biểu đề nghị cần bổ sung và làm rõ vấn đề này.

Trên thực tế, thời gian qua đã xảy ra một số vụ việc về an toàn vệ sinh thực phẩm gây bức xúc lớn trong dư luận nhân dân. Khi có vụ việc phát sinh, nếu luật chỉ dừng lại ở quy định chung chung thì rất khó quy trách nhiệm. Vì vậy, cần phải làm rõ; trường hợp trong luật chưa thể quy định chi tiết thì phải được cụ thể hóa trong các nghị định, văn bản hướng dẫn thi hành.
Tại khoản 3 có nội dung quy định về việc "khuyến khích" phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc đối với các loại thực phẩm không bắt buộc truy xuất nguồn gốc. Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Phượng cho rằng, phát triển nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn hiện nay là yêu cầu rất cấp thiết của một nền nông nghiệp hiện đại. Các sản phẩm nông sản – đầu ra của sản xuất nông nghiệp, chính là nguồn nguyên liệu đầu vào cho bữa ăn của từng gia đình. Đây là vấn đề quan trọng, đòi hỏi nguyên liệu sản xuất ngày càng phải bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm. Vì vậy, nếu luật chỉ dừng lại ở mức “khuyến khích”, thì về bản chất các chủ thể có thể làm hoặc không làm. Đại biểu đề nghị cần có chính sách hỗ trợ cụ thể thay vì chỉ dừng ở mức "khuyến khích" mà không có cơ chế, chính sách hỗ trợ cụ thể cho các doanh nghiệp thì rất khó khả thi.

Góp ý cho dự án luật này, đại biểu Đoàn Hùng Vũ, ĐBQH tỉnh Đồng Tháp tập trung góp ý về Chương III dự thảo Luật, đại biểu kiến nghị chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành và sắp xếp lại bố cục các điều luật cho mạch lạc, đúng quy định pháp luật hiện hành.
Nội dung tóm tắt gồm 4 vấn đề trọng tâm sau: Chuẩn hóa thuật ngữ kỹ thuật, tránh dùng lẫn lộn: Các khái niệm "thông tin", "dữ liệu", "hệ thống thông tin" và "cơ sở dữ liệu" hiện bị dùng ghép không chuẩn xác (như cụm từ “thông tin dữ liệu”, “hệ thống thông tin dữ liệu”). Đại biểu đề nghị đối chiếu Luật Dữ liệu, Luật Tiếp cận thông tin và Luật An ninh mạng để tách bạch rõ ràng; dùng đúng ngữ nghĩa của từng từ, nếu dùng cả hai thì phải có dấu phẩy phân tách.
Đề nghị sửa tên chương từ “Hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm” thành “Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm” để bao quát và chuẩn xác hơn.
Tại điểm a khoản 3 Điều 16, đề nghị đổi cụm từ “cung cấp thông tin” thành “chia sẻ dữ liệu” giữa các bộ, ngành để phù hợp với định hướng số hóa và quy định của pháp luật về dữ liệu…

Buổi sáng cùng ngày, các đại biểu cũng góp ý đối với Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
THU HOÀI - HỮU LÝ


