CHUYÊN MỤC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Đồng Tháp: Từ kết quả nghiên cứu đến giá trị kinh tế

Chủ Nhật, 08/11/2026, 23:33 (GMT+7)
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên

(ĐTO) Những năm qua, hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ (KH&CN) tại Đồng Tháp đã đạt nhiều kết quả thiết thực, góp phần nâng cao giá trị nông sản, cải thiện quy trình sản xuất, xử lý các vấn đề môi trường và thúc đẩy phát triển sản phẩm mới.

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có giá trị thương mại, tăng cường liên kết với doanh nghiệp và thị trường đang trở thành yêu cầu quan trọng để KH&CN thực sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

ThS. Nguyễn Minh Nhựt Quang, Phó Trưởng Phòng Quản lý Khoa học, Sở Khoa học và Công nghệ, chia sẻ kết quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ vào thực tiễn sản xuất.

PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGHIÊN CỨU, NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT

Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, hoạt động KH&CN tại Đồng Tháp đang từng bước hướng đến tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng, giải quyết các vấn đề đặt ra trong sản xuất và kinh doanh. Thông qua việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào chế biến, bảo quản, quản lý chất lượng và tận dụng phụ phẩm, nhiều kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

Theo ThS. Nguyễn Minh Nhựt Quang, Phó Trưởng Phòng Quản lý Khoa học, Sở KH&CN, toàn tỉnh hiện có 48 nhiệm vụ KH&CN đang triển khai, gồm 43 nhiệm vụ cấp tỉnh và 5 nhiệm vụ cấp cơ sở; 15 nhiệm vụ đã được nghiệm thu. Các nhiệm vụ tập trung vào nhiều lĩnh vực, trong đó nông nghiệp, kỹ thuật công nghệ và văn hóa - xã hội chiếm tỷ trọng đáng kể.

Một trong những kết quả thể hiện rõ giá trị ứng dụng của KH&CN là nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất phân hữu cơ từ bùn thải chế biến cá tra. Thay vì xem bùn thải là nguồn chất thải cần xử lý, kết quả nghiên cứu đã mở ra hướng tận dụng nguồn nguyên liệu này để sản xuất phân hữu cơ, vừa góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, vừa tạo thêm sản phẩm phục vụ nông nghiệp.

Từ kết quả nghiên cứu, mô hình xưởng sản xuất phân hữu cơ quy mô 10.000 tấn/năm được xây dựng và được Cục Bảo vệ thực vật chứng nhận đủ điều kiện sản xuất. Mô hình góp phần xử lý từ 40 - 45 tấn bùn thải mỗi ngày phát sinh tại các nhà máy chế biến cá tra, đồng thời cung ứng hơn 20 tấn phân hữu cơ chất lượng cao mỗi ngày. Riêng trong năm 2024, đơn vị đã sản xuất 6.557 tấn phân các loại, góp phần xử lý 19.050 tấn bùn thải. Công ty TNHH Mai Thiên Thanh được UBND tỉnh cho chủ trương mở rộng quy mô sản xuất lên 60 tấn/ngày.

Hợp tác xã Sản xuất và Tiêu thụ rau an toàn Long Thuận thực hiện có định hướng việc canh tác rau màu theo hướng an toàn. (Ảnh: NAM PHONG)

Ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp an toàn, việc ứng dụng KH&CN tại Hợp tác xã Sản xuất và Tiêu thụ rau an toàn Long Thuận đã tạo chuyển biến trong tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Hợp tác xã phát triển quy mô sản xuất rau VietGAP hơn 10,4 ha; ứng dụng phương thức sản xuất trên giá thể, trong nhà màng, nhà lưới, kết hợp quy trình bảo quản, sơ chế và đóng gói nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Đáng chú ý, phần lớn sản phẩm của hợp tác xã có thể quét mã QR để truy xuất thông tin. Nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chú trọng tiêu chuẩn chất lượng, hợp tác xã đã ký kết tiêu thụ với 9 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Trong cơ cấu tiêu thụ, 60% sản lượng qua siêu thị, 35% qua cửa hàng nông sản sạch và 5% qua bệnh viện.

Nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn giống mãng cầu xiêm phù hợp là cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và phát triển các sản phẩm chế biến từ loại nông sản này.

Cùng với nâng cao chất lượng sản phẩm, chế biến sâu cũng là hướng nghiên cứu góp phần gia tăng giá trị nông sản. Đối với cây mãng cầu xiêm, nhiệm vụ hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm nước uống dinh dưỡng, trà mãng cầu xiêm, mứt sấy dẻo, nước trái cây lên men và rượu mãng cầu xiêm đã được chuyển giao cho Công ty TNHH Travipha ứng dụng vào sản xuất. Các mô hình công nghệ và thiết bị được xây dựng với công suất 500 kg nguyên liệu/ngày. Việc đa dạng hóa sản phẩm từ cùng một nguồn nguyên liệu góp phần mở rộng hướng chế biến, nâng cao khả năng khai thác giá trị nông sản thay vì chỉ phụ thuộc vào tiêu thụ sản phẩm tươi.

Một hướng nghiên cứu khác là tận dụng phụ phẩm cây khóm đốn bỏ tại khu vực Tân Phước để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng. Kết quả đã xây dựng quy trình sản xuất sợi từ lá khóm theo các tiêu chuẩn cơ bản, công nghệ chế biến củ hũ khóm muối chua và sản xuất phân hữu cơ từ phụ phẩm sau quá trình sản xuất sợi. Các sản phẩm này mở ra khả năng khai thác thêm giá trị từ nguồn nguyên liệu vốn chưa được tận dụng hiệu quả, đồng thời góp phần giảm lãng phí trong sản xuất nông nghiệp.

Đối với ngành hàng cây ăn trái, nghiên cứu giải pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng cây sa pô cũng ghi nhận hiệu quả từ việc áp dụng quy trình canh tác hữu cơ. Theo kết quả nghiên cứu, sa pô Mặc Bắc đạt năng suất 18,97 tấn/ha, tăng 14,69%, hiệu quả kinh tế tăng 19,92%; sa pô Mehico đạt 10,94 tấn/ha, tăng 11,75%, hiệu quả kinh tế tăng 13,01% so với đối chứng. Bên cạnh đó, quy trình bảo quản sau thu hoạch giúp duy trì chất lượng quả sa pô Mặc Bắc trong 10 ngày và sa pô Mehico từ 10 - 12 ngày ở điều kiện nhiệt độ 25±2°C, với tỷ lệ hư hỏng dưới 10%.

Sản phẩm tơ sợi từ lá khóm được giới thiệu tại một cuộc trưng bày. (Ảnh: ANH THƯ)

Từ những mô hình trên, có thể thấy KH&CN đang tham gia ngày càng sâu vào quá trình tạo ra giá trị sản phẩm, từ khâu sản xuất nguyên liệu, chế biến, bảo quản đến kiểm soát chất lượng. Nhất là, những nhiệm vụ có doanh nghiệp tiếp nhận, đầu tư ứng dụng và tổ chức sản xuất đã cho thấy khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế cụ thể.

GẮN NGHIÊN CỨU VỚI NHU CẦU DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG

Giai đoạn 2021 - 2025, các nhiệm vụ KH&CN do Sở KH&CN triển khai đã góp phần đào tạo 15 thạc sĩ; hình thành 112 quy trình, 131 mô hình, 114 tài liệu, 8 bản đồ và 5 phần mềm. Kết quả nghiên cứu còn được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước, với 267 bài báo trong nước và 38 bài báo ngoài nước.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc đưa các sản phẩm nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh vẫn cần được quan tâm hơn nữa. Thực tế cho thấy, không phải nhiệm vụ nào sau khi nghiệm thu cũng có điều kiện được tiếp nhận, nhân rộng hoặc thương mại hóa. Hiệu quả của nghiên cứu phụ thuộc nhiều vào mức độ phù hợp với nhu cầu thị trường, khả năng tiếp nhận công nghệ và sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình triển khai.

Theo đánh giá của Sở KH&CN, tại vùng phía Đông, các nghiên cứu còn khiêm tốn, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, nhất là cây trồng và chế biến sau thu hoạch như mãng cầu xiêm, cây sả; trong khi các nghiên cứu về thủy sản, du lịch chưa được quan tâm đúng mức. Đáng chú ý, việc đề xuất đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu phần lớn xuất phát từ các viện, trường, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với địa phương, ngành và doanh nghiệp. Các nghiên cứu còn mang tính đơn lẻ, chưa hình thành cụm, chuỗi nhiệm vụ gắn với chuỗi giá trị để giải quyết đồng bộ những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Những hạn chế này cho thấy yêu cầu đổi mới không chỉ nằm ở việc lựa chọn đề tài nghiên cứu mà còn ở cách tổ chức thực hiện và tiếp nhận kết quả. Nếu nhiệm vụ KH&CN chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế, chưa xác định rõ đơn vị tiếp nhận và khả năng ứng dụng, kết quả nghiên cứu sẽ khó phát huy đầy đủ giá trị. Ngược lại, khi doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xác định vấn đề, đặt hàng nghiên cứu đến ứng dụng sản phẩm, khả năng chuyển giao và thương mại hóa sẽ có điều kiện thuận lợi hơn.

Các sản phẩm phân bón hữu cơ và chế phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp từ giải pháp IMO, đất TAMA, góp phần tận dụng phụ phẩm, hướng đến sản xuất nông nghiệp bền vững.

Từ thực tế trên, ThS. Nguyễn Minh Nhựt Quang đề nghị các địa phương căn cứ nhu cầu thực tiễn và định hướng phát triển để chủ động đề xuất, đặt hàng những nhiệm vụ KH&CN phù hợp, góp phần giải quyết các vấn đề cụ thể trong sản xuất và đời sống. Nhất là, cần xác định rõ vai trò của doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu, tiếp nhận và ứng dụng kết quả. Theo định hướng của ngành KH&CN, cần “lấy doanh nghiệp làm trung tâm, hiệu quả đầu ra đóng góp cho phát triển kinh tế là thước đo chủ yếu”.

Để thực hiện yêu cầu này, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng nhiệm vụ đến tổ chức triển khai và tiếp nhận kết quả. Các nhiệm vụ cần được lựa chọn theo hướng có địa chỉ ứng dụng cụ thể, gắn với yêu cầu phát triển ngành hàng, năng lực sản xuất và nhu cầu thị trường. Đồng thời, cần chuyển từ nghiên cứu đơn lẻ sang hình thành các cụm, chuỗi nhiệm vụ KH&CN và đổi mới sáng tạo, qua đó giải quyết đồng bộ các vấn đề trong từng khâu của chuỗi giá trị.

Bên cạnh đó, việc đánh giá nhiệm vụ cần quan tâm nhiều hơn đến khả năng ứng dụng, hiệu quả kinh tế và mức độ đóng góp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các quy trình, mô hình hay sản phẩm nghiên cứu cần có điều kiện để được tiếp nhận, hoàn thiện và nhân rộng; doanh nghiệp cần được phát huy vai trò trong việc đưa kết quả nghiên cứu đến thị trường.

LÊ MINH - MỸ LÝ - SONG AN - M.T

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH ĐỒNG THÁP PHỐI HỢP THỰC HIỆN

Bình luận