Kết luận của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành Kết luận số 107-KL/TW ngày 17-10-2026 về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế.
.png)
Kết luận số 107-KL/TW nêu rõ, tại phiên họp ngày 9-10-2026, xem xét Tờ trình số 103-TTr/BTCTW, ngày 8-10-2026 của Ban Tổ chức Trung ương về định hướng hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế, Bộ Chính trị cơ bản thống nhất với Báo cáo và các đề xuất của Ban Tổ chức Trung ương.
Bộ Chính trị kết luận: Thời gian qua, việc xây dựng vị trí việc làm trong hệ thống chính trị đã đạt một số kết quả bước đầu. Hệ thống văn bản, danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực cơ bản được hình thành, từng bước phục vụ công tác cán bộ và quản lý biên chế…
Tuy nhiên, qua nhiều nhiệm kỳ, kết quả chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới; phương pháp chưa thống nhất, dữ liệu còn phân tán, việc quản lý, sử dụng vị trí việc làm chưa hiệu quả. Ở một số nơi, nhiệm vụ đã được phân cấp nhưng thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm (nhân lực, kinh phí, dữ liệu) chưa đồng bộ; tình trạng giao thoa, chồng chéo nhiệm vụ chưa được khắc phục triệt để.
Tác động của chuyển đổi số, cơ chế tự chủ, xã hội hóa và yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chưa được phản ánh đầy đủ trong xác định nhu cầu nhân lực và phân bổ biên chế.
Từ thực tiễn trên, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ quản lý theo danh mục vị trí, số người, chỉ tiêu biên chế sang quản lý theo nhiệm vụ, công việc, sản phẩm, kết quả và trách nhiệm; kế thừa nội dung đã được kiểm chứng, kịp thời khắc phục hạn chế, bất cập.
Về quan điểm, Bộ Chính trị nhấn mạnh 5 cốt lõi: (1) Vị trí việc làm là nền tảng của quản trị tổ chức, quản trị nhân lực trong hệ thống chính trị; là căn cứ xuyên suốt để tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, đánh giá, sàng lọc, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, quản lý biên chế và cải cách chính sách tiền lương.
Chuyển mạnh từ quản lý theo số lượng người, biên chế ngạch bậc sang quản trị theo vị trí việc làm, năng lực thực thi, kết quả và giá trị đóng góp; Phân định rõ việc xác định vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và quyết định giao biên chế; gắn trách nhiệm với thẩm quyền và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
(2) Hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kết luận số 76-KL/TW, yêu cầu vận hành mô hình tổ chức mới và chính quyền địa phương 2 cấp; phân cấp, phân quyền phải gắn với phân định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, bố trí nhân lực và bảo đảm điều kiện thực hiện, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
(3) Kế thừa kết quả, dữ liệu, danh mục, bản mô tả công việc và khung năng lực đã có, còn phù hợp và đã được kiểm chứng; tập trung rà soát thực chất, đề xuất điều chỉnh, tích hợp hoặc loại bỏ vị trí không còn phù hợp, bổ sung vị trí mới khi thực sự phát sinh nhiệm vụ, bảo đảm đúng thẩm quyền.
(4) Đổi mới công tác quản lý, sử dụng và đãi ngộ cán bộ theo vị trí việc làm. Từng bước đổi mới cơ chế đánh giá, chính sách tiền lương và đãi ngộ theo vị trí việc làm, năng lực và kết quả công việc; khắc phục bình quân, cào bằng, coi trọng ngạch, bậc, thâm niên hơn hiệu quả công việc.
(5) Quản lý vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực và biên chế trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác, thống nhất, liên thông, có nguồn gốc và được kiểm tra, xác nhận; tiếp tục hoàn thiện phương pháp, tiêu chuẩn, định mức. Đề cao trách nhiệm trực tiếp của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu đối với chất lượng dữ liệu và kết quả thực hiện.
Về nguyên tắc, vị trí việc làm được xác định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị; gắn với nội dung công việc, sản phẩm, kết quả, trách nhiệm và yêu cầu năng lực, đồng thời tính đến tác động của phân cấp, phân quyền, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tự chủ và xã hội hóa.
Mỗi vị trí gắn với một nhóm công việc tương đối ổn định, có sản phẩm và trách nhiệm rõ ràng; không hình thành vị trí việc làm riêng chỉ do công đoạn, nhiệm vụ đột xuất hoặc khác biệt về ngạch, bậc.
Thống nhất nội dung mô tả cơ bản về nhiệm vụ, sản phẩm, thẩm quyền, quan hệ phối hợp và yêu cầu năng lực; phù hợp đặc thù công tác Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và từng lĩnh vực chuyên ngành.
Phân định rõ nhiệm vụ chủ trì, phối hợp và trách nhiệm giữa các cơ quan, các cấp; khắc phục triệt để tình trạng giao thoa, chồng chéo, bỏ sót, trùng lặp; gắn phân cấp với năng lực thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm.
Rà soát, điều chỉnh khi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mô hình tổ chức, phương thức làm việc thay đổi; kế thừa nội dung còn phù hợp, không yêu cầu lập lại toàn bộ hồ sơ.
Về xác định nhu cầu nhân lực và quản lý biên chế, theo Kết luận, áp dụng phương pháp phù hợp tính chất từng công việc để xác định nhu cầu nhân lực từ nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng, tần suất, mức độ phức tạp, chất lượng, thời gian, địa bàn, điều kiện thực hiện và năng lực cần thiết.
Đối với công việc tham mưu, nghiên cứu, thẩm tra, giám sát và phục vụ các cơ quan lãnh đạo, phải tính đến yếu tố đặc thù như tiến độ, trách nhiệm đối với sản phẩm, nhiệm vụ đột xuất, công việc cao điểm và yêu cầu duy trì năng lực chuyên môn; không áp dụng cơ học định mức giải quyết hồ sơ hành chính.
Không đồng nhất một vị trí việc làm với một cá nhân hoặc một chỉ tiêu biên chế; không tự động quy đổi nhu cầu nhân lực thành chỉ tiêu biên chế.
Xem xét đồng bộ tác động của 4 nhóm yếu tố: Địa giới hành chính; quy mô, trình độ phát triển; mức độ phân cấp, phân quyền; khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tự chủ và xã hội hóa. Chú trọng đặc điểm của 4 nhóm địa bàn (đô thị đặc biệt, đô thị, đồng bằng, miền núi) và điều kiện đặc thù của từng địa phương; không bình quân, cào bằng hoặc áp dụng máy móc theo vùng.
Đối chiếu nhu cầu với số người hiện có, biên chế được giao, cơ cấu, chuyên môn, năng lực, phân bổ và nguồn kinh phí.
Ưu tiên bố trí lại, điều chuyển, đào tạo, sàng lọc, kiêm nhiệm, sử dụng chung nhân lực và đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm phù hợp chức danh, năng lực, thẩm quyền và điều kiện thực hiện nhiệm vụ.
Quản lý chặt chẽ tổng biên chế được giao; định kỳ rà soát, điều chỉnh trên cơ sở nhiệm vụ, nhu cầu nhân lực và kết quả sử dụng biên chế.
Bộ Chính trị đề ra 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm:
(1) Khẩn trương rà soát, điều chỉnh, cập nhật vị trí việc làm theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và mô hình tổ chức mới.
(2) Thống nhất phương pháp phân tích nhiệm vụ, xác định công việc, sản phẩm, trách nhiệm và nhu cầu nhân lực; vận dụng phù hợp với đặc thù từng khối, ngành, lĩnh vực và nhóm địa bàn. Rà soát, đề xuất giữ nguyên, điều chỉnh, tích hợp, bãi bỏ nhiệm vụ hoặc bổ sung vị trí việc làm theo thẩm quyền.
(3) Hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm thống nhất trong hệ thống chính trị trong năm 2026; bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, có nguồn gốc, được kiểm tra, xác nhận, có khả năng kết nối, khai thác và cập nhật, phục vụ trực tiếp công tác cán bộ và xây dựng phương án giao biên chế giai đoạn 2027-2031.
(4) Tập trung rà soát, bố trí, cơ cấu lại nhân lực và xây dựng phương án giao biên chế giai đoạn 2027-2031, báo cáo Bộ Chính trị trong quý IV-2026.
(5) Gắn vị trí việc làm với tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc và phát triển đội ngũ cán bộ dựa trên sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc. Từ năm 2027, tiếp tục chuẩn hóa danh mục, bản mô tả công việc, khung năng lực, dữ liệu và phương pháp xác định nhu cầu nhân lực; hoàn thiện công cụ cập nhật, khai thác dữ liệu thường xuyên, phục vụ quản trị nhân lực và cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình.
Xem toàn văn Kết luận số 107-KL/TW, tại đây.
Theo nhandan.vn
https://nhandan.vn/ket-luan-cua-bo-chinh-tri-ve-hoan-thien-he-thong-vi-tri-viec-lam-trong-he-thong-chinh-tri-post996571.html


