Khơi thông điểm nghẽn đưa công nghệ chiến lược vào thực tiễn

Chủ Nhật, 12/7/2026, 13:38 (GMT+7)
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên

Sau một năm rưỡi triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được đặt vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới phải tập trung tạo ra kết quả, chuyển mạnh từ xây dựng cơ chế chuyển sang tạo ra sản phẩm; từ hoàn thành nhiệm vụ chuyển sang tạo ra giá trị; từ chuẩn bị điều kiện chuyển sang đóng góp trực tiếp cho phát triển đất nước.

Từ các kết quả bước đầu…

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, Việt Nam đã xác định 10 công nghệ chiến lược gắn với 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn của quốc gia. Các viện nghiên cứu, trường đại học, nhà khoa học trong và ngoài nước đã tích cực trong nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng; mô hình liên kết “ba nhà” bước đầu phát huy tác dụng, đưa sản phẩm nghiên cứu vào thực tiễn.

Một số doanh nghiệp Việt Nam đã bước đầu làm chủ công nghệ, có sản phẩm đưa ra thị trường, có sản phẩm xuất khẩu ra khu vực và thế giới. Thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong một số lĩnh vực đã tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội cụ thể.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá vẫn còn nhiều hạn chế về thể chế, hạ tầng, nhân lực, dữ liệu, an ninh mạng, an toàn thông tin và giải ngân vốn. Kết quả thực tế chưa tương xứng với nguồn lực và quyết tâm chính trị, chưa tạo ra nhiều sản phẩm chiến lược cụ thể. "Khâu yếu nhất hiện nay là tổ chức thực hiện", kết luận nêu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu các cơ quan, đơn vị nhận thức sâu sắc khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu để đổi mới mô hình phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới và hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Theo đó, các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được.

…Đến các điểm nghẽn cần tháo gỡ

Để những kết quả bước đầu chuyển thành năng lực thực chất, theo các chuyên gia, cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn: sự đứt gãy trong chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao và môi trường triển khai còn hạn chế đối với sản phẩm công nghệ mới.

Thứ nhất, khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường vẫn là nút thắt lớn. Tỷ lệ thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 0,1%, trong khi mức trung bình thế giới là 5% và ở các nước phát triển là 10%. Khoảng cách này còn phản ánh sự thiếu liên tục giữa các giai đoạn nghiên cứu cơ bản, phát triển nguyên mẫu, kiểm định, thử nghiệm và mở rộng thị trường. Nhiều dự án đã vượt khỏi phạm vi một đề tài khoa học, nhưng chưa đủ hoàn thiện để doanh nghiệp đầu tư ở quy mô lớn.

Để tháo gỡ, cơ chế tài trợ cần đi theo toàn bộ vòng đời của công nghệ, thay vì kết thúc ở khâu nghiệm thu. GS, TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đề xuất tái cơ cấu các quỹ khoa học-công nghệ theo ba trụ cột: tài trợ cho nghiên cứu cơ bản và công nghệ tiền cạnh tranh có rủi ro cao; đóng vai trò “vốn mồi” cho thương mại hóa, chuyển giao; đồng thời hỗ trợ thu hút và giữ chân nhân tài để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh.

Cùng với nguồn vốn, cần hoàn thiện cơ chế giao quyền và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ; phát triển các tổ chức trung gian có năng lực định giá, kiểm định và chuyển giao công nghệ; tạo điều kiện để nhà khoa học tham gia thành lập, điều hành doanh nghiệp spin-off. Hiệu quả chính sách cần được đo bằng số sản phẩm được thương mại hóa, doanh thu tạo ra, thay vì chỉ bằng số doanh nghiệp được thành lập.

Trên thực tế, các viện nghiên cứu đang chuyển dần từ thực hiện nhiệm vụ riêng lẻ sang xây dựng chuỗi sản phẩm gắn với môi trường ứng dụng. Viện Vật lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã phát triển robot di động tự hành phục vụ các lĩnh vực đặc thù như hạt nhân và y tế; được thử nghiệm tại Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt và một số cơ sở y học hạt nhân, trong đó có Bệnh viện 103, cho thấy khả năng vận hành ổn định và tiềm năng ứng dụng trong an toàn bức xạ, công nghệ hạt nhân và công nghiệp.

Nghiên cứu khoa học cần cơ chế phù hợp để đi vào thực tiễn. Ảnh minh họa

Trong khối doanh nghiệp, một trong những sáng kiến đáng chú ý là việc thành lập Viện Nghiên cứu Quantum AI & Cyber security (QACI) của FPT. Đây là một trong những viện nghiên cứu công nghệ cao đầu tiên của doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và công nghệ lượng tử.

“Trong bối cảnh công nghệ ngày càng gắn chặt với chủ quyền, an ninh và năng lực tự chủ quốc gia, FPT xác định đầu tư dài hạn cho công nghệ lõi không chỉ là lựa chọn chiến lược của doanh nghiệp, mà còn là trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của đất nước”, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn FPT Trương Gia Bình cho biết.

Các hoạt động nghiên cứu tại QACI được định hướng giải quyết những bài toán thực tiễn của quốc gia trong các lĩnh vực then chốt này, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, hạn chế tình trạng nghiên cứu không tìm được đầu ra - một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo bị đứt gãy.

Điểm nghẽn thứ hai là sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng. PGS,TS Nguyễn Hải Đăng, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, cho rằng thách thức lớn nhất trong đào tạo nhân lực hiện nay bắt nguồn từ chính tốc độ phát triển rất nhanh của các lĩnh vực công nghệ mới, trong khi năng lực đào tạo ở nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa theo kịp cả về nội dung chương trình, phương thức tổ chức lẫn điều kiện bảo đảm chất lượng.

Giải pháp vì vậy không chỉ là mở thêm ngành học. Chương trình đào tạo cần được cập nhật nhanh hơn, gắn với phòng thí nghiệm, nhiệm vụ nghiên cứu và bài toán thực tế của cơ quan nhà nước, địa phương và doanh nghiệp. Xuất phát từ nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030, dự kiến hỗ trợ khoảng 1.000 nghiên cứu sinh với mức tài chính cạnh tranh quốc tế đến năm 2030.

Các cơ sở giáo dục đại học đã điều chỉnh chương trình theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu và nhu cầu nhân lực mới, ví dụ như Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã triển khai đồng bộ từ đào tạo, nghiên cứu khoa học đến hợp tác doanh nghiệp; trong năm học 2026-2027, Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ triển khai 15 chương trình đào tạo tài năng STEM thuộc các lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Một số doanh nghiệp công nghệ cũng chủ động triển khai đào tạo nhân lực từ sớm. Hệ thống giáo dục của FPT đưa nội dung AI vào giảng dạy từ lớp 1 từ năm học 2024-2025, giúp học sinh tiếp cận sớm với tư duy công nghệ, dữ liệu, thuật toán và nguyên tắc sử dụng công nghệ có trách nhiệm. Giáo viên cũng được bồi dưỡng năng lực ứng dụng AI trong xây dựng học liệu, thiết kế bài giảng và đánh giá người học.

Học sinh FPT được tiếp cận AI và hình thành tư duy công nghệ ngay từ lớp 1.

Với những lĩnh vực mới như lượng tử, yêu cầu chuẩn bị nhân lực càng phải đi trước. GS, TS Nguyễn Ngọc Tú, Giáo sư tại Kennesaw State University, Hoa Kỳ, đánh giá cao việc một số doanh nghiệp công nghệ trong nước, trong đó có FPT, đã chủ động đầu tư nghiên cứu, đào tạo nhân lực và kết nối với viện, trường trong lĩnh vực lượng tử. Theo ông, những nỗ lực này sẽ góp phần tạo môi trường đủ hấp dẫn để thu hút, giữ chân chuyên gia Việt Nam từ nước ngoài trở về, qua đó phát triển cộng đồng nhân lực lượng tử trong nước.

Điểm nghẽn thứ ba là doanh nghiệp còn thiếu môi trường triển khai và thị trường ban đầu để hoàn thiện công nghệ. Với những sản phẩm như AI Camera, robot tự hành, UAV hay các công nghệ lưỡng dụng, nguyên mẫu chỉ có thể trở thành sản phẩm khi được vận hành trong điều kiện thực tế, có dữ liệu, người dùng và phản hồi để tiếp tục hoàn thiện. Tuy nhiều doanh nghiệp đã đầu tư nghiên cứu nhưng vẫn thiếu địa điểm thử nghiệm, đơn hàng đầu tiên và cơ chế tiếp nhận sản phẩm mới.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, nhận định sản phẩm công nghệ nếu không được triển khai trong thực tiễn sẽ khó hoàn thiện và thương mại hóa. Vì vậy, việc Nhà nước đóng vai trò “khách hàng đầu tiên”, đặt hàng sản phẩm công nghệ chiến lược thì sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ lõi và từng bước giảm phụ thuộc nhập khẩu.

Trong mô hình này, cơ quan quản lý đưa ra nhu cầu và điều kiện triển khai; doanh nghiệp cung cấp giải pháp, thiết bị và năng lực vận hành; người dân, hợp tác xã hoặc đơn vị chuyên môn trực tiếp sử dụng và phản hồi.

UAV được thử nghiệm vận chuyển nông sản tại tỉnh Điện Biên trong dự án phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và FPT hồi đầu tháng 3. Ảnh: MST

Chương trình thử nghiệm UAV tại Điện Biên là một thí dụ về cách chuyển bài toán của địa phương thành nhiệm vụ công nghệ cụ thể. Từ nhu cầu vận chuyển thuốc men, nông sản, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và khảo sát địa hình, UBND tỉnh Điện Biên đã cho phép triển khai chương trình thử nghiệm có kiểm soát phương tiện bay không người lái. Chương trình kéo dài đến hết tháng 5/2027, đặt mục tiêu thực hiện khoảng 6.000 chuyến bay trong bốn lĩnh vực gồm nông nghiệp, logistics, y tế và đo đạc bản đồ số, với tỷ lệ chuyến bay an toàn trên 99%.

Vietnam Post chủ trì tổ chức triển khai và thử nghiệm. FPT cùng các đơn vị sản xuất UAV khác phụ trách kỹ thuật, cung cấp thiết bị, giải pháp công nghệ và hệ thống phần mềm điều khiển bay. Các doanh nghiệp dịch vụ tham gia vận hành, sửa chữa và bảo dưỡng; tổ chức, hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân địa phương là đơn vị ứng dụng, thụ hưởng và đánh giá hiệu quả. Sở Khoa học và Công nghệ Điện Biên chủ trì phối hợp với các sở, ngành kiểm tra, hướng dẫn.

Đây là cách tiếp cận cần được mở rộng đối với sản phẩm công nghệ chiến lược. Nếu năm 2025 được xem là giai đoạn "khởi động, chạy đà" thì bước sang năm 2026, yêu cầu đặt ra đối với toàn bộ hệ thống triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW là phải "tăng tốc", với phương châm "Hành động đột phá, lan tỏa kết quả".

Những kết quả ban đầu cho thấy năng lực công nghệ trong nước đang từng bước được hình thành ở cả khu vực nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp. Sự phối hợp giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp sẽ góp phần đưa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW vào thực tiễn, qua đó nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, năng suất và sức cạnh tranh của đất nước.

Nguồn: nhandan.vn

Bình luận