Tháng Tư lại về, mang theo dư âm của những ngày lịch sử không thể phai mờ. Trong dòng chảy ký ức ấy, cuộc gặp gỡ của chúng tôi với những cựu chiến binh - “nhân chứng sống” của một thời hoa lửa để lắng nghe câu chuyện kể, để nhìn nhận và suy ngẫm.
Những cựu chiến binh đã đi qua chiến tranh với niềm tin son sắt vào cách mạng. Trong thời bình, các cựu chiến binh vẫn lặng lẽ sống và cống hiến, viết nên những câu chuyện đẹp giữa cuộc sống đời thường.
“NẾU NHỤT CHÍ, ĐỒNG ĐỘI SẼ MẤT, QUÊ HƯƠNG SẼ MẤT”
Suốt những năm tháng chiến đấu, ông Nguyễn Khắc Tâm (bí danh Hai Chuối), hiện cư trú tại phường Mỹ Phong (tỉnh Đồng Tháp), sinh năm 1948, thương binh hạng 3/4 từng bị thương 6 lần, nhưng chưa một lần chùn bước.

Với ông, nỗi đau thể xác không thể lấn át được lý tưởng và niềm tin vào cách mạng. Điều này đã giúp ông kiên cường bám trụ, cùng đồng đội đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh.
Chỉ cho chúng tôi vị trí ở tay, chân với những vết sẹo còn hằn sâu trên da thịt, ông Hai Chuối kể: “Bị thương nhiều lần, nhưng cứ thấy khỏe người là tôi lại báo cáo xin đi đánh địch cùng đồng đội. Đến giờ, mảnh đạn còn nằm trong lồng ngực cũng đã hơn 50 năm”.
Ông Hai Chuối tham gia cách mạng năm 1966 tại Thành đội Mỹ Tho, từng là Tiểu đội trưởng Tiểu đội trinh sát của Đại đội 3, sau đó là bộ đội đặc công, trực tiếp tham gia trong nhiều trận đánh ác liệt, đặc biệt là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại Mỹ Tho.
Nhắc lại những năm tháng ấy, ông Hai Chuối chia sẻ: “Khi đó, tụi tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất là đánh thắng Mỹ và quân đội Sài Gòn, dù có phải hy sinh”.
Sau trận đánh Tết Mậu Thân, ông Hai Chuối tiếp tục tham gia các trận chống bình định trong điều kiện đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn có ưu thế cơ giới mạnh, hỏa lực mạnh.

“Những đợt càn quét của địch, đi qua đâu là nơi ấy chỉ còn tro tàn, cảnh vật hoang tàn đến nỗi khó tin”, ông Hai Chuối kể lại.
Gian khổ, hiểm nguy luôn cận kề, nhưng ông Hai Chuối và đồng đội vẫn kiên cường bám trụ, bởi niềm tin vào cách mạng và sự yêu thương, chở che của Nhân dân là điểm tựa vững chắc.
Ông kể, có những buổi tối, nghe tiếng súng xa vọng lại, ông thấy lòng mình lại trào dâng ý chí: “Chúng tôi biết nếu nhụt chí, đồng đội sẽ mất, quê hương sẽ mất. Chính niềm tin và tình thương của dân đã cho chúng tôi sức mạnh để vượt qua tất cả.
Đến năm 1971, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ đặc công. Sau 1 tháng huấn luyện cấp tốc, tôi cùng đồng đội tham gia trận đánh cụm tàu của quân đội Mỹ trên sông Cửu Long, phá hủy 11 chiếc tàu địch.
Lúc đó, tôi chỉ nghĩ một điều duy nhất: Tất cả vì cách mạng, không sợ chết, không sợ gì hết.”
Ông Hai Chuối nhớ nhất là trận đánh kho đạn năm 1973. Khi đó, ông cùng đồng đội tham gia đánh 11 kho đạn của Chiến đoàn 6 tại Mỹ Tho. Mỗi kho đạn là một thử thách sinh tử, nhưng với ông và đồng đội, đó cũng là niềm vinh dự được cấp trên giao phó.
Ông bồi hồi nhớ lại: “Chúng tôi nhìn nhau, thấy quyết tâm trong ánh mắt đồng đội, và thế là đi. Sau trận đánh, nhiều đồng đội hy sinh, tôi cũng bị thương, nhưng may mắn còn sống”. Và thế là ông vẫn tiếp tục cầm súng chiến đấu cho đến ngày giải phóng.
Sau ngày giải phóng, ông Hai Chuối tiếp tục công tác tại Viện Kiểm sát nhân dân TP. Mỹ Tho (cũ) cho đến ngày nghỉ hưu.
Không cho phép mình nghỉ ngơi, ông miệt mài cống hiến cho cộng đồng, ông từng có hơn 6 năm làm Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh khu phố Mỹ Hòa (phường Mỹ Phong) luôn gương mẫu trong mọi công việc, tận tâm với đồng đội, bà con Nhân dân.
Ông đã được các cấp khen thưởng với nhiều Bằng khen, Giấy khen trong nhiều năm liền.
Giờ đây, ở tuổi 78, với 57 năm tuổi Đảng, dù thời gian đã làm bạc trắng mái đầu, ông Hai Chuối luôn là một cán bộ, người cựu chiến binh, đảng viên cộng sản mẫu mực, giữ vững lý tưởng cách mạng và là tấm gương sáng để các thế hệ noi theo.
LỜI THỀ THEO CÁCH MẠNG
Với dáng người nhỏ nhắn, giọng nói trầm ấm và nụ cười hiền hậu, sinh năm 1956, tại ấp Long Hiệp, xã Tân Thuận Bình, ông Trần Văn Bé Năm sớm trưởng thành trong khói lửa chiến tranh.

Lớn lên giữa vùng địch kiểm soát, tận mắt chứng kiến cha bị địch bắt tra tấn dã man, anh trai tham gia cách mạng cũng hy sinh, nỗi đau mất mát đã sớm hun đúc trong ông Năm ý chí kiên cường và quyết tâm đứng lên chiến đấu.
Năm 16 tuổi, ông Năm quyết tâm đi theo cách mạng. Ông Năm chia sẻ: “Lúc đầu, tôi xin theo các cô, chú ở xã, nhưng trong lòng luôn khao khát được trực tiếp cầm súng đánh giặc. Dù còn nhỏ, tôi vẫn tha thiết năn nỉ để được tham gia bộ đội”.
Năm 1973, ông Năm tham gia lực lượng du kích xã Quơn Long, rồi lần lượt công tác tại Đại đội địa phương quân, huyện Chợ Gạo (cũ), đội trinh sát, rồi đội hỏa tốc tại Huyện đội Chợ Gạo.
Trong những năm tháng chiến đấu, ông Năm cùng đồng đội tham gia nhiều trận chống càn ác liệt.
Đỉnh điểm là cuối năm 1974, khi Chợ Gạo trở thành chiến trường trọng điểm, quân dân địa phương phối hợp cùng Tiểu đoàn 514C đẩy mạnh tấn công, nhằm phá rã hệ thống “ấp chiến lược”, mở mảng chuyển vùng lớn.
Ông Năm nhớ lại: “Thời điểm cao điểm năm 1974, khi chúng tôi bao vây đồn An Lạc (xã Lương Hòa Lạc), địch chống trả quyết liệt, pháo và súng bắn ra liên hồi.
Anh em phải bám từng mô đất, từng bờ mương để tiến lên phía trước. Khi địch bắt đầu rút chạy, chúng tôi vừa đánh, vừa áp sát, giữ thế chủ động. Đến lúc làm chủ được đồn, ai cũng thấm mệt, nhưng niềm vui thì không gì tả nổi” .
Sau trận đánh, điều ông nhớ nhất không chỉ là chiến thắng mà còn là hình ảnh bà con trong vùng hỗ trợ, tiếp tế và cùng bộ đội, du kích địa phương phá bỏ đồn bốt: “Lúc đó, mình mới thấy rõ sức mạnh của lòng dân. Chính điều đó đã giúp chúng tôi vững tin mà đi đến cùng”, ông Năm kể.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông Năm tiếp tục công tác tại Tỉnh đội Tiền Giang (cũ), rồi tham gia chiến trường K, tiếp tục cống hiến tuổi trẻ cho nhiệm vụ quốc tế.
Đến năm 1995, vì lý do sức khỏe, ông nghỉ hưu sớm, trở về cuộc sống đời thường, làm cán bộ tuyên giáo xã, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh ấp Long Hiệp… đóng góp tích cực cho địa phương. Với ông Năm, dù trong thời chiến hay thời bình, được cống hiến luôn là niềm tự hào và lẽ sống.
VỮNG TIN VÀO MỘT NGÀY MAI TƯƠI SÁNG
Trong căn nhà nhỏ nằm yên bình tại ấp Một, xã Hưng Thạnh, ông Trần Văn Đực (81 tuổi), nguyên Đại đội trưởng Đại đội 1 Châu Thành Bắc, đón chúng tôi bằng nụ cười hiền hậu.
Ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, ông vẫn minh mẫn, giọng nói chậm rãi nhưng dứt khoát, đặc biệt là khi nhắc về những ngày tháng chiến đấu hào hùng trong mùa xuân năm 1975 - thời khắc lịch sử của Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngược dòng ký ức, đầu năm 1975, Đại đội 1 Châu Thành Bắc là một trong những đơn vị chủ lực được giao nhiệm vụ tiến công, tiêu diệt các cứ điểm quan trọng, giải phóng khu vực Hưng Thạnh - Phú Mỹ. Trước yêu cầu cấp bách của chiến trường, đơn vị nhận mệnh lệnh phải đánh chiếm Thất Cao Đài ngay trong đêm.
Theo ông Đực, nếu tấn công trực diện sẽ gặp nhiều tổn thất, vì vậy, ông cùng đồng đội đã linh hoạt lựa chọn chiến thuật bao vây, chia cắt, với sự hỗ trợ của Nhân dân địa phương.
“Ta dùng súng 12 ly 8 bắn dồn dập vào trận địa địch, đánh trúng mục tiêu khiến chúng rối loạn. Ta tiêu diệt được nhiều tên, số còn lại hoảng sợ bỏ chạy. Quan trọng nhất là phải giữ vững trận địa, không để địch quay lại”, ông Đực nhớ lại.
Thừa thắng xông lên, Đại đội tiếp tục tiến công đồn Cầu Quán (Hưng Thạnh), tiêu diệt 26 tên địch. Đến cuối tháng 2-1975, đơn vị giải phóng đồn Phú Mỹ, tiêu diệt thêm 6 tên, bắt sống 2 tên. Ở phía Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp, chỉ trong vòng 1 tuần, Đại đội đã đánh chiếm và làm chủ thêm 2 đồn còn lại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Không dừng lại, đơn vị tiếp tục được phân công đánh các cứ điểm giáp ranh với các xã thuộc huyện Chợ Gạo cũ, như khu vực Bến Tranh, đồng thời phối hợp cùng các lực lượng chốt giữ cửa ngõ, ngăn chặn sự chi viện của địch về Sài Gòn, góp phần tạo thế tiến công áp đảo trên toàn chiến trường.
Nhắc về thời khắc lịch sử trưa ngày 30-4-1975, ông Đực không giấu được xúc động. Khi nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, niềm vui vỡ òa trong đại đội. Thế nhưng, giữa niềm vui chiến thắng, đơn vị vẫn giữ vững tinh thần cảnh giác, tiếp tục làm nhiệm vụ.
“Ở khu vực cầu Dừa (xã Long Định), địch vẫn còn cố thủ. Đại đội tổ chức tiến công, tiêu diệt thêm 6 tên, nhiều tên bị thương. Đến 13 giờ cùng ngày, chúng tôi hoàn toàn tiếp quản Long Định, làm chủ tuyến đường 4”, ông kể với ánh mắt ánh lên niềm tự hào.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông Đực trở về công tác tại Huyện đội Châu Thành. Đến năm 1982, do sức khỏe giảm, ông được nghỉ chế độ.
Là thương binh, ông mang trên mình vết thương từ năm 1969, khi tham gia chiến đấu với Sư đoàn 7, bị trúng đạn gãy chân phải, mảnh đạn đến nay vẫn còn trong cơ thể.
Dẫu vậy, người lính năm xưa vẫn giữ vững tinh thần lạc quan. Ông chia sẻ: “Lúc chiến tranh, chỉ nghĩ phải sống để chiến đấu, để có ngày trở về. Hôm nay, sống trong hòa bình, tôi càng trân quý cuộc sống này hơn”.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về những năm tháng khốc liệt vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí người cựu chiến binh. Ông vui vì còn được sống, được chứng kiến quê hương đổi thay từng ngày, nhưng cũng không khỏi nghẹn ngào khi nhớ đến những đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Giữa cuộc sống đời thường, ông Trần Văn Đực vẫn vững tin vào một ngày mai tươi sáng - niềm tin được hun đúc từ chính những năm tháng gian khổ, hy sinh.
Đó cũng là thông điệp ông gửi gắm đến thế hệ hôm nay: Hãy trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm và tiếp nối truyền thống anh hùng của dân tộc.
LÊ NGUYÊN - PHƯƠNG MAI


