Năm 2025, Việt Nam đứng thứ tư thế giới về đơn đặt hàng đóng tàu, với tổng dung tích khoảng 2 triệu GT. Trước đó, năm 2024, Việt Nam cũng ghi dấu ấn ở vị trí thứ tư toàn cầu về tổng dung tích tàu bàn giao.
Từ tàu hàng trọng tải lớn đến những tàu chuyên dụng phục vụ năng lượng ngoài khơi, các sản phẩm được chế tạo tại Việt Nam đang mở rộng cả về quy mô lẫn trình độ kỹ thuật, tạo nền tảng để ngành đóng tàu tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế.


Theo dữ liệu của Clarksons Research (Tổ chức nghiên cứu hàng đầu của Anh về thị trường hàng hải và công nghiệp đóng tàu), năm 2024, Việt Nam bàn giao 720.884GT tàu thương mại đóng mới, chiếm khoảng 1,01% tổng sản lượng thế giới, đứng thứ tư toàn cầu. Năm 2025, tổng dung tích tàu bàn giao của Việt Nam tiếp tục tăng lên 877.576GT, tương đương khoảng 1,1% sản lượng thế giới. Đáng chú ý, xét theo khối lượng đơn đặt hàng đóng tàu trong năm 2025, Việt Nam đạt khoảng 2 triệu GT, đứng thứ tư thế giới, sau Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Những kết quả này phản ánh sự phát triển đáng ghi nhận về năng lực sản xuất và khả năng thu hút đơn hàng quốc tế của ngành đóng tàu Việt Nam.
Thực tế những năm qua, các nhà máy trong nước đã từng bước chinh phục những dòng tàu trọng tải lớn, với kết cấu phức tạp, yêu cầu kỹ thuật cao. Điển hình, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đóng tàu Nam Triệu đã làm chủ quy trình đóng mới dòng tàu hàng 65.000DWT, dài gần 200m, đáp ứng tiêu chuẩn đăng kiểm quốc tế. Sau khi bàn giao chiếc đầu tiên vào cuối năm 2024 và hạ thủy tàu Trường Minh 02 vào cuối năm 2025, doanh nghiệp tiếp tục ký hợp đồng đóng mới tàu 65.000DWT cho Công ty cổ phần Vận tải biển Hòa Phát vào tháng 9/2026.
Ở lĩnh vực tàu chuyên dụng, Công ty cổ phần Đóng tàu Sông Cấm đã hạ thủy tàu dịch vụ năng lượng ngoài khơi ST245-ESCV, dài 116,5m, đóng cho đối tác Na Uy. Tàu phục vụ các công trình dầu khí, điện gió ngoài khơi, được trang bị hệ thống động lực có khả năng sử dụng nhiên liệu methanol nhằm giảm phát thải. Đây là minh chứng cho khả năng tiếp cận và tích hợp công nghệ xanh trong chế tạo những sản phẩm hàng hải có yêu cầu kỹ thuật phức tạp.
Trong khi đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đóng tàu Hạ Long tiếp tục ghi dấu ấn với việc hạ thủy tàu dịch vụ điện gió ngoài khơi CSOV 9020 vào tháng 4/2026. Đây là chiếc thứ sáu trong loạt 14 tàu CSOV doanh nghiệp đang triển khai đóng mới, phục vụ thi công, vận hành và bảo dưỡng các trang trại điện gió ngoài khơi. Tàu được trang bị hệ thống định vị động và bốn chân vịt có khả năng quay 360 độ, đòi hỏi trình độ tích hợp cao giữa cơ khí, điện và tự động hóa.

Dù đã đạt bước tiến lớn về năng lực sản xuất nhưng giá trị tạo ra trong nước của ngành đóng tàu chỉ khoảng 20-30%, trong khi vật tư, linh kiện và thiết bị do doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp sản xuất chiếm khoảng 10-15%. Các hạng mục có giá trị cao như động cơ, hệ động lực, thiết bị điện-điện tử và tự động hóa vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Thực tế này cho thấy, bên cạnh gia tăng sản lượng, ngành đóng tàu cần chuyển trọng tâm sang nâng cao năng lực công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Yêu cầu ấy đang được đặt ra trong quá trình hoàn thiện dự thảo Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam. Đáng chú ý, dự thảo dành riêng một chương cho công nghiệp hàng hải, xác định ba cấu phần gồm công nghiệp tàu thủy, công nghiệp hỗ trợ hàng hải và công nghiệp công nghệ hàng hải. Hoạt động công nghiệp tàu thủy được tiếp cận theo toàn bộ chuỗi giá trị và vòng đời sản phẩm, từ nghiên cứu, thiết kế, đóng mới, sửa chữa đến bảo dưỡng, tái chế; đồng thời mở rộng sang các công trình dầu khí và năng lượng tái tạo ngoài khơi.
Dù đã đạt bước tiến lớn về năng lực sản xuất nhưng giá trị tạo ra trong nước của ngành đóng tàu chỉ khoảng 20-30%, trong khi vật tư, linh kiện và thiết bị do doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp sản xuất chiếm khoảng 10-15%. |
Theo Cục trưởng Hàng hải và Đường thủy Việt Nam Lê Đỗ Mười, việc hoàn thiện dự thảo Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam là cơ hội để định hình lại chiến lược phát triển công nghiệp hàng hải, tương xứng với tiềm năng kinh tế biển và vị thế đóng tàu của Việt Nam.
“Mục tiêu hướng tới hình thành một nền công nghiệp hàng hải đồng bộ, có khả năng làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Dự thảo Bộ luật hướng tới tạo lập khuôn khổ pháp lý và cơ chế khuyến khích đầu tư dài hạn, qua đó chuyển lợi thế về năng lực sản xuất thành sức cạnh tranh và giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế”, Cục trưởng Lê Đỗ Mười nhấn mạnh.
Để tạo động lực đầu tư, dự thảo đề xuất miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 10 năm đối với doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở đóng mới, hoán cải, nâng cấp, sửa chữa tàu biển, tàu sông; ưu đãi thuế đối với các cơ sở đóng tàu ứng dụng công nghệ xanh, tàu sử dụng nhiên liệu thay thế và tàu không người lái.
Những khu liên hợp, trung tâm công nghiệp tàu thủy quy mô lớn, ứng dụng công nghệ tiên tiến hoặc công nghệ xanh được đưa vào nhóm dự án ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược. Dự thảo cũng đề xuất cơ chế thí điểm có kiểm soát đối với công nghệ, vật liệu và giải pháp kỹ thuật mới chưa có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm.
Tuy nhiên, ưu đãi đầu tư khó tạo ra chuyển biến căn bản nếu thiếu sự liên kết giữa các chủ thể và thị trường trong ngành.
Việc hoàn thiện dự thảo Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam là cơ hội để định hình lại chiến lược phát triển công nghiệp hàng hải, tương xứng với tiềm năng kinh tế biển và vị thế đóng tàu của Việt Nam.
Theo Tiến sĩ Phạm Hoài Chung, Phó Chủ tịch Hội Khoa học-Kỹ thuật công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, công nghiệp đóng tàu cần phát triển theo tư duy hệ sinh thái, kết nối nhu cầu của chủ tàu với các cơ sở đóng mới, sửa chữa, đơn vị thiết kế, nghiên cứu, doanh nghiệp cung ứng thiết bị, tổ chức tài chính và cơ sở đào tạo. Đặc thù chu kỳ sản xuất dài, giá trị hợp đồng lớn cũng đòi hỏi những công cụ tài chính phù hợp, nhất là tín dụng dài hạn, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước và bảo hiểm xuất khẩu. Cùng với đó, hợp tác quốc tế phải hướng tới phát triển mạng lưới nhà cung cấp trong nước, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực thiết kế và tích hợp hệ thống, thay vì chỉ mở rộng quy mô gia công.
Vị thế trên bản đồ đóng tàu thế giới đã mở ra cơ hội phát triển. Cùng với đó, Dự thảo Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang đặt nền móng cho cách tiếp cận toàn diện hơn. Điều quyết định là khả năng chuyển những định hướng chính sách thành năng lực sản xuất, làm chủ các khâu có giá trị cao và hình thành những chuỗi liên kết công nghiệp thực chất. Đó mới là nền tảng để Việt Nam tạo ra giá trị lớn hơn từ công nghiệp hàng hải quốc gia.
Theo nhandan.vn
https://nhandan.vn/viet-nam-vao-top-4-the-gioi-ve-don-dat-hang-dong-tau-post993897.html