Hơn nửa thế kỷ đã đi qua kể từ ngày Bác Hồ đi xa, nhưng ở miền Tây Nam Bộ, hình ảnh của Người vẫn hiện hữu trong đời sống thường nhật bằng một tình cảm chân thành, mộc mạc mà sâu nặng. Từ mái nhà dân, những ngôi đền giữa đồng quê đến các kỷ vật được gìn giữ qua nhiều thế hệ, tất cả đều chất chứa tấm lòng son sắt của đồng bào miền Tây đối với Bác Hồ kính yêu.
Buổi sáng một ngày tháng 5, theo lịch hẹn, chúng tôi tìm về xã Trí Phải, tỉnh Cà Mau để gặp bà Đỗ Thị Cư-con gái thứ bảy của má Lê Thị Sảnh, người từng gửi cây vú sữa miền Nam ra Bắc tặng Bác Hồ vào năm 1954. Căn nhà nhỏ nằm nép mình bên dòng kênh quê yên ả. Ở tuổi ngoài 80, bà Cư vẫn còn minh mẫn. Ký ức về buổi tiễn đoàn cán bộ tập kết năm ấy dường như vẫn còn nguyên trong tâm trí. Bà kể, ngày đó, bên dòng kênh Chắc Băng, bà con kéo đến tiễn bộ đội, cán bộ ra Bắc đông lắm. Ai cũng bịn rịn vì không biết ngày nào mới gặp lại. Giữa buổi chia tay đầy nước mắt ấy, má bà lặng lẽ chọn một cây vú sữa nhỏ trong vườn gửi theo đoàn cán bộ để kính tặng Bác Hồ. Món quà quê đơn sơ nhưng chứa đựng biết bao tình cảm của đồng bào miền Nam dành cho vị lãnh tụ mà họ luôn đặt trọn niềm tin. “Hồi đó tôi còn nhỏ lắm, má biểu xuống vườn kiếm cây vú sữa đẹp để gửi cho Bác Hồ. Chỉ nghe nói tặng Bác là mừng dữ lắm rồi. Người lớn ai cũng thương Bác hết”, bà Cư kể, giọng vẫn đầy xúc động.

Theo lời bà Cư, thời ấy ở vùng quê miền Tây, mấy ai từng được thấy hình Bác Hồ rõ ràng. Người dân chỉ nghe qua lời cán bộ, qua những câu chuyện kể về một vị lãnh tụ suốt đời lo cho dân nghèo, lo cho đất nước được độc lập, tự do. Nhưng chừng đó thôi cũng đủ để bà con đặt trọn niềm tin và thương kính Người như người thân ruột thịt trong gia đình. “Má tôi hồi đó hay nói, nhờ có Bác mà dân mình sau này mới hết khổ, con cháu mới được sống yên ổn. Niềm tin mộc mạc ấy đã theo nhiều người đi suốt những năm tháng chiến tranh", bà Cư bộc bạch.
Ở miền Tây, người ta thương Bác Hồ theo cách rất riêng. Không phải bằng những lời lẽ lớn lao, mà bằng sự thủy chung âm thầm như giữ một ngọn lửa trong lòng qua bao biến động. Trong căn nhà ở Cà Mau, ông Nguyễn Hữu Thành, nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận) vẫn cẩn thận giữ chiếc băng tang đã bạc màu theo thời gian. Đó là chiếc băng ông đeo trong lễ truy điệu Bác Hồ năm 1969 giữa rừng đước Năm Căn. Khi ấy, ông là học viên Trường Sư phạm Trung cấp miền Tây. Giữa vùng căn cứ còn đầy bom đạn, thầy trò dựng một bàn thờ đơn sơ bằng cây rừng để làm lễ truy điệu Bác.
“Hôm đó cả khu căn cứ lặng đi. Anh em ôm nhau khóc. Với tụi tôi lúc đó, Bác như người cha của mình vậy. Không ai bảo ai nhưng ai cũng thấy phải tiếp tục chiến đấu, phải làm cho được điều Bác mong là đất nước thống nhất”, ông Thành kể rồi ngưng lại khá lâu. Chiếc băng tang ấy sau này được ông mang theo suốt những năm hoạt động cách mạng. Với ông Thành, đó không chỉ là kỷ vật mà còn là lời nhắc về niềm tin mà Bác đã để lại cho những người con miền Nam trong giai đoạn khó khăn nhất.

Còn với bà Nguyễn Bích Vân ở phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau, năm tháng trôi qua với bao biến đổi nhưng cuốn Di chúc của Bác Hồ mà mẹ bà để lại là một tài sản vô giá. Bà Vân kể, mẹ bà là giao liên hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Những năm chiến tranh, để giữ cuốn Di chúc, bà phải bọc nhiều lớp cao su rồi giấu trên mái lá. Theo bà Vân, sống trong lòng địch, dưới sự kiểm soát gắt gao, việc giữ gìn một tài liệu cách mạng là đánh cược bằng cả mạng sống. Nhưng tấm lòng với Bác đã giúp mẹ của bà có thêm can đảm để gìn giữ cuốn Di chúc như bảo vệ niềm tin về một ngày độc lập. "Có những đêm mưa dột, má tôi thức canh chỉ sợ nước làm hư tài liệu. Với gia đình, cuốn Di chúc không đơn thuần là giấy tờ mà là điều nhắc nhở con cháu phải sống cho xứng đáng với sự hy sinh của biết bao người đi trước", bà Vân chia sẻ.
Không chỉ có những kỷ vật riêng hay những mẩu chuyện, ở miền Tây Nam Bộ, tình cảm dành cho Bác còn được gửi gắm trong những ngôi đền thờ được dựng lên giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt-Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, tỉnh Cà Mau là một minh chứng. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, không chỉ có khói bom mà còn rạng ngời ý chí “địch phá ta xây” của nhân dân địa phương. Giữa vòng vây súng đạn của kẻ thù, một ngôi đền kiên cố bằng bê tông cốt thép đã mọc lên đầy kiêu hãnh, kịp khánh thành đúng vào ngày sinh nhật Bác, ngày 19-5-1972. Và cũng trong thời điểm đó, Đội bảo vệ đền thờ gồm 7 chiến sĩ, do ông Nguyễn Văn Khoa làm đội trưởng ra đời trong lễ “truy điệu sống” đầy xúc động. Họ nguyện dành cả tuổi xuân và tính mạng của mình để giữ vững ngôi đền thiêng. Và lịch sử đã chứng minh không có sức mạnh nào tàn phá được niềm tin và tình cảm mà người dân miền Tây dành cho Người cha già kính yêu của dân tộc.
.jpg)
Ông Nguyễn Văn Khoa- Đội trưởng Đội bảo vệ Đền thờ Bác Hồ xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu (giai đoạn 1972-1975) (nay là xã Châu Thới, tỉnh Cà Mau) nhớ lại: “Sau khi đền thờ được xây dựng xong, địch coi đây là mục tiêu phải đánh phá bằng mọi giá. Từ hướng sân bay Sóc Trăng, Bạc Liêu, chúng liên tục bắn phá; ban đêm thì pháo từ nhiều hướng dội vào. Xung quanh lại có 7-8 đồn bốt nên ngày nào cũng lăm le càn quét. Có lần chúng bắt hàng trăm người dân, ép dẫn vào để phá Đền thờ. Nhưng khi đến gần, từ cụ già đến trẻ em đều đồng lòng ngồi xuống, không ai chịu bước tiếp. Bà con nói rõ: "Muốn bắn thì bắn chúng tôi, chứ chúng tôi không phá Đền thờ Bác". Chính sự đoàn kết, kiên quyết ấy khiến nhiều cuộc càn quét cuối cùng phải rút lui, không thực hiện được ý đồ. Nhờ vậy, chúng tôi cùng nhân dân đã giữ vững được đền thờ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng”.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi theo những mùa nước lớn nước ròng, nhưng khói nhang trên bàn thờ Bác tại miền Tây Nam Bộ chưa bao giờ nguội lạnh. Từ huyền thoại cây vú sữa miền Nam đến những ngôi đền kiên cường mọc lên ngay giữa lòng địch, tất cả đã kết thành một bản hùng ca về lòng thủy chung son sắt của người miền Tây dành cho vị Cha già dân tộc. Giữ gìn những kỷ vật, chăm sóc những ngôi đền, người dân nơi cực Nam Tổ quốc là việc làm cụ thể để tiếp nối mạch nguồn truyền thống, để tình cảm yêu kính dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành nền tảng văn hóa tinh thần vững chắc cho chính quyền và nhân dân miền đất Chín Rồng tiến bước.
Theo qdnd.vn


