Tăng trưởng trong giới hạn sinh thái để phát triển bền vững

Thứ Bảy, 29/8/2026, 21:46 (GMT+7)
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, chuyển dịch năng lượng, già hóa dân số và những thay đổi nhanh chóng của công nghệ, khiến các quốc gia trong đó có Việt Nam phải tính bài toán tăng trưởng làm sao để vừa tạo ra của cải, vừa bảo đảm khả năng phát triển lâu dài.

Tăng trưởng trong giới hạn sinh thái để phát triển kinh tế bền vững. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Liên quan vấn đề này, các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và đối tác phát triển đã có cách tiếp cận từ nhiều góc độ từ cải cách thể chế, quản trị vốn tự nhiên, đổi mới sáng tạo và phương thức đo lường phát triển. 

Nhiều ý kiến đã được đưa ra thảo luận tại hội thảo quốc tế “Phát triển kinh tế và Chuyển đổi bền vững - EDAST 2026”, do Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 26-8. Điểm chung của các ý kiến là tăng trưởng kinh tế không thể được đặt bên ngoài những giới hạn của tự nhiên và khả năng chịu đựng của xã hội.

Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần

Theo PGS, TS Hoàng Khắc Lịch, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, những quan niệm truyền thống về phát triển đang được xem xét lại một cách sâu sắc. 

Biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, chuyển dịch năng lượng, già hóa dân số, những thay đổi nhanh chóng của công nghệ và trí tuệ nhân tạo, cùng những biến động của thương mại và chuỗi giá trị toàn cầu đang làm thay đổi căn bản môi trường phát triển của các quốc gia. 

Trong hoàn cảnh đó, câu hỏi với các nền kinh tế đang phát triển không còn là làm thế nào để tăng trưởng nhanh hơn, mà quan trọng hơn là làm thế nào để tăng trưởng tốt hơn và bền vững hơn.

Hội thảo quốc tế “Phát triển kinh tế và Chuyển đổi bền vững - EDAST 2026”. Ảnh: AN NGUYÊN

Tăng trưởng tốt, theo cách tiếp cận được đặt ra tại hội thảo, phải dựa vào năng suất lao động, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên; nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. 

Đồng thời bảo đảm thành quả phát triển được chia sẻ rộng rãi, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đặt ra những đòi hỏi mới đối với mô hình tăng trưởng.

Sau hơn bốn thập niên Đổi mới, những thành tựu kinh tế-xã hội đã tạo nền tảng quan trọng. Nhưng chặng đường tiếp theo đòi hỏi những chuyển đổi căn bản hơn về mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, công nghệ, nguồn nhân lực, quản trị tài nguyên và chất lượng thể chế. Nói cách khác, bài toán phát triển không chỉ là tạo thêm giá trị, mà còn phải tính đến giá phải trả để tạo ra giá trị đó.

Theo GS.TS. Roberto F.Ranola, Jr. Hiệu trưởng Đại học Cabuyao, Philippines tài nguyên không nên chỉ được nhìn như những thứ có thể khai thác để tạo ra doanh thu trước mắt, mà cần được xem là vốn tự nhiên - một loại tài sản tạo ra lợi ích lâu dài cho nền kinh tế và xã hội. Dầu mỏ, gỗ hay khoáng sản có giá trị thị trường rõ ràng. 

Còn với thiên nhiên cung cấp những lợi ích khó quy đổi thành tiền nhưng lại có ý nghĩa sống còn như: Đất ngập nước giúp ngăn lũ, rừng điều hòa nước hay hệ sinh thái lưu trữ carbon. 

Nếu chỉ tính toán những lợi ích có thể bán trên thị trường mà bỏ qua những giá trị phi thị trường này, nền kinh tế có thể tưởng rằng mình đang giàu lên trong khi tài sản nền tảng cho sự phát triển lại đang bị hao hụt.

Thế giới tài nguyên đang chịu tác động đồng thời của ít nhất 5 yếu tố lớn: chuyển dịch năng lượng; sự tập trung địa lý của các khoáng chất quan trọng; biến đổi khí hậu; suy giảm đa dạng sinh học và phân mảnh địa chính trị. Điều đó khiến cách quản trị tài nguyên truyền thống đứng trước yêu cầu phải thay đổi.

Một nền kinh tế giàu tài nguyên chưa chắc đã có lợi thế phát triển nếu không quản trị tốt nguồn lực này. Bẫy tài nguyên có thể xuất hiện khi giá tài nguyên tăng, quốc gia chi tiêu quá mức; nhưng khi giá giảm lại đối mặt với khủng hoảng nợ, phải cắt giảm an sinh, trong khi lãng phí và tham nhũng có thể gia tăng. Cùng với đó là những rủi ro đối với sinh kế của cộng đồng chung quanh các khu vực khai thác.

Từ đó, GS.TS. Roberto F.Ranola đề xuất khung 5 trụ cột chính sách. Trước hết là quản trị và giải trình minh bạch, trong đó có công khai hợp đồng, danh tính chủ sở hữu thực tế và đối thoại với cộng đồng nhằm hạn chế những trì hoãn trong quá trình triển khai dự án. 

Tiếp đó là quy hoạch tài chính thông minh, với các quỹ bình ổn, quỹ tiết kiệm có quy tắc rõ ràng và đa dạng hóa nguồn thu thuế ngoài tài nguyên. Trụ cột thứ ba là tạo giá trị gia tăng nhưng tránh lặp lại những hạn chế của mô hình công nghiệp cũ: Chế biến sâu để nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị, song không bảo hộ kéo dài cho những doanh nghiệp nội địa yếu kém. Thứ tư là quản lý tài nguyên tích cực với tự nhiên, thông qua quy hoạch đất đai bảo vệ hệ sinh thái, định giá và phân bổ nước, thích ứng dựa trên hệ sinh thái.

Cuối cùng là cải cách cách đo lường phát triển. GDP truyền thống không phản ánh đầy đủ sự hao hụt vốn tự nhiên. Vì vậy, mục tiêu môi trường cần được kết nối với ngân sách và quá trình ra quyết định phát triển. Đây là sự thay đổi quan trọng trong tư duy: thiên nhiên không phải là “kho dự trữ” vô tận để nền kinh tế lấy ra sử dụng, mà là một phần của tài sản quốc gia cần được bảo toàn và gia tăng giá trị.

Cần nội lực để phát triển bền vững

Chuyển đổi bền vững sẽ khó thành công nếu chỉ dừng ở các mục tiêu. Một trong những nội dung được bà Krista Kruft - Cố vấn cấp cao về quan hệ đối tác chiến lược đa phương, Đại học Wageningen, Hà Lan nhấn mạnh là yêu cầu nâng cao năng lực thể chế.

Bà Krista Kruft - Cố vấn cấp cao về quan hệ đối tác chiến lược đa phương, Đại học Wageningen, Hà Lan. Ảnh: AN NGUYÊN

Triết lý “chuyển dịch công bằng” đặt ra yêu cầu chính sách phải được đồng thiết kế với chính những nhóm chịu ảnh hưởng, bao gồm các bên liên quan tại địa phương, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế, thay vì chỉ được xây dựng với những đối tượng quen thuộc. Trong quản trị hệ thống lương thực-thực phẩm, yêu cầu này càng rõ rệt khi Việt Nam phải đồng thời giải bài toán bảo đảm lương thực cho 110 triệu người vào năm 2050 và mục tiêu Net Zero 2050.

Năm nguyên tắc quản trị được đặt ra gồm khung vấn đề hệ thống; cấu trúc bắc cầu qua ranh giới; bảo đảm khả năng thích ứng; tính bao trùm; và năng lực chuyển đổi. 

Đáng chú ý, cách tiếp cận “học tập 3 vòng” cũng gợi mở một phương thức nâng cao năng lực thực thi. Nếu vòng thứ nhất là kiến thức kỹ thuật, vòng thứ hai là áp dụng thực tế với sự tham gia của các bên, thì vòng thứ ba đòi hỏi sự tự nhận thức sâu sắc để thay đổi văn hóa tổ chức và xây dựng năng lực hợp tác liên ngành.

Như vậy, chuyển đổi bền vững không chỉ cần chính sách đúng, mà còn cần năng lực thực hiện chính sách đúng. Một vấn đề khác được đặt ra tại hội thảo là năng lực nội sinh của nền kinh tế. 

Nếu tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào nguồn lực bên ngoài mà năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp nội địa chưa đủ mạnh, dư địa nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị sẽ bị hạn chế. 

Bởi vậy, đầu tư vào giáo dục STEM, AI và công nghệ được xem là một trong những hướng quan trọng để củng cố nội lực.

Từ góc nhìn vĩ mô, các chuyên gia chỉ ra 5 chuyển dịch cấu trúc gắn với Nghị quyết 68/2025 của Bộ Chính trị. 

Đó là chuyển dịch động lực tăng trưởng sang năng suất và đổi mới của khu vực tư nhân; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong STEM và AI; củng cố nội lực công nghiệp bằng việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tự chủ xây dựng thương hiệu toàn cầu; hội nhập chiến lược để tận dụng xu hướng China Plus One và tiến lên các khâu sản xuất linh kiện, vật liệu, thiết kế; đồng thời nâng cao chất lượng thể chế với các quy tắc có tính dự đoán được, tránh hình sự hóa các quan hệ kinh tế dân sự.

Những chuyển dịch này cho thấy tăng trưởng bền vững không phải một chính sách riêng biệt của lĩnh vực môi trường. Đó là một chương trình chuyển đổi tổng thể của nền kinh tế. 

Từ thể chế đến doanh nghiệp, từ giáo dục đến công nghệ, từ tài nguyên đến ngân sách, từ đô thị đến nông thôn, các cấu phần phải được nhìn nhận trong cùng một hệ thống. Đây cũng là giá trị quan trọng mà EDAST 2026 hướng tới: Kết nối nghiên cứu với chính sách, kết nối tri thức quốc tế với những vấn đề phát triển của Việt Nam và chuyển kết quả nghiên cứu thành những giá trị thiết thực cho xã hội.

Theo nhandan.vn

https://nhandan.vn/tang-truong-trong-gioi-han-sinh-thai-de-phat-trien-ben-vung-post985294.html

Bình luận