Dọc theo tuyến Quốc lộ 54, đoạn qua xã Lai Vung, mùi gỗ mới thoang thoảng như lời chào của Làng nghề thớt gỗ Định An. Hơn 70 năm qua, nơi những âm thanh của tiếng cưa, tiếng đục, tiếng mài… không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là “nhịp đập” của một làng nghề bình dị.
THỚT GỖ ĐỊNH AN NỔI TIẾNG XA GẦN
Ghé thăm vùng đất Định An vào buổi sáng sớm, trước mắt chúng tôi là hình ảnh những hàng thớt tròn xoe, vàng óng được người dân xếp ngay ngắn phơi dọc hai bên đường.

Theo các bậc cao niên trong vùng, làng nghề bắt đầu thành hình và phát triển từ những năm 1950. Người được dân làng tôn kính xem như “ông Tổ” của làng nghề là ông Nguyễn Hữu Lời.
Thuở ấy, người dân Định An thường ngược xuôi ghe bầu đi buôn bán nông sản phương xa, khi về thì mua gỗ mù u để làm cột nhà, đóng tủ, bàn.
Chiếc thớt gỗ Định An, dù chỉ là tấm gỗ đơn sơ, nhưng chứa đựng niềm tự hào của người dân địa phương. Giữa cuộc sống hiện đại với đủ loại thớt nhựa, thớt gỗ công nghiệp tiện dụng, nhưng thớt gỗ Định An vẫn hiện diện trong gian bếp của hàng triệu gia đình Việt. |
Những khúc gỗ thừa, gỗ vụn không nỡ bỏ đi, ông Lời đã tận dụng cưa thành những tấm thớt cho vợ con dùng trong bếp. Lạ thay, thớt gỗ mù u vừa bền, vừa chắc, băm, chặt mạnh tay cũng không bị lên dăm. Tiếng lành đồn xa, bà con đến hỏi mua.
Từ món đồ “tận dụng” cho đỡ phí, chiếc thớt gỗ Định An dần trở thành món hàng thương phẩm, hình thành nên một làng nghề cha truyền con nối qua nhiều thế hệ.
Tiếp nối nghề của gia đình, anh Nguyễn Quốc Việt - cháu nội ông Lời, là chủ Cơ sở thớt gỗ Ba Quang vẫn miệt mài bên xưởng mộc của gia đình. Vừa thoăn thoắt đôi tay bên máy tiện, anh Việt vừa chia sẻ: “Nghề này là cơ nghiệp của gia đình.

Từ đời ông nội đến đời cha và giờ đến tôi, dù thời thế có thay đổi thế nào, tôi vẫn giữ nguyên cái tâm của người thợ mộc. Phải làm ra sản phẩm thật chất lượng mới không phụ lòng tin của khách hàng”.
Để làm ra một chiếc thớt đạt chuẩn, người thợ phải trải qua những công đoạn đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm dày dặn mà không máy móc nào thay thế hoàn toàn được.
Thớt Định An nổi tiếng nhất là làm từ gỗ mù u - loại cây mọc hoang ven sông, có thớ gỗ xoắn chặt, dẻo. Ngày nay, khi nguồn gỗ mù u trở nên khan hiếm, người dân đã linh hoạt chuyển sang dùng gỗ xà cừ, me chua…, với tiêu chuẩn là những cây già, thân to, đặc lõi và chắc chắn.
Gỗ sau khi đưa về xưởng được xẻ thành từng đoạn theo độ dày mong muốn, thường từ 3 - 5 cm.
Công đoạn gọt láng cạnh thớt và bào mặt chính là lúc tay nghề người thợ được phô diễn rõ nhất. Đôi tay phải thật khéo để tấm thớt tròn đều, mặt thớt nhẵn, bóng loáng. Điểm khác biệt lớn nhất tạo nên uy tín của thớt Định An chính là sự “thuần mộc”.
Khác với các loại thớt công nghiệp thường dùng hóa chất tẩy trắng hay chống mốc, thớt Định An hoàn toàn không hóa chất, vì thớt sau khi thành hình phải được phơi nắng để làm khô nhựa tự nhiên bên trong.
Ông Nguyễn Văn Thi, thợ làm thớt lâu năm tâm sự: “Làm thớt cực nhất là lúc “trông nắng”. Thời tiết miền Tây mưa nắng thất thường, khi thấy mây đen kéo đến là cả nhà, từ người già đến trẻ nhỏ chạy thu gom thớt. Nếu không đủ nắng, gỗ dễ bị mục, mẻ, làm mất uy tín làng nghề”.
SỨC SỐNG BỀN BỈ CỦA LÀNG NGHỀ
Hiện Làng nghề thớt gỗ Định An còn khoảng 20 hộ sản xuất quy mô lớn và hàng chục hộ nhỏ lẻ. Trung bình mỗi ngày, nơi đây cung ứng ra thị trường khoảng 1.000 sản phẩm.

Những ngày cao điểm như tháng 11, tháng 12 âm lịch, không khí càng trở nên hối hả để chuẩn bị cho Tết Nguyên đán. Các hộ sản xuất tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu như: Gỗ vụn thì được làm thành bàn nạo dừa, ghế nhỏ, giá đỡ điện thoại...
Ngay cả mùn cưa, vỏ cây cũng được thu gom làm phân bón hoặc củi đốt, tạo nên một chu trình sản xuất khép kín, không lãng phí tài nguyên từ gỗ.
Tuy nhiên, làng nghề đang đứng trước những thách thức lớn khi nguồn gỗ tại chỗ khan hiếm, phải đi mua từ các tỉnh xa khiến chi phí tăng cao. Việc phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết để phơi thớt cũng là rào cản khiến sản phẩm khó đạt tiêu chuẩn khắt khe để xuất khẩu.
Để tháo gỡ khó khăn đó, năm 2022, Mộc gia Hội quán (xã Lai Vung) ra đời với hơn 30 thành viên, nhằm chia sẻ kinh nghiệm và trở thành điểm tựa để các hộ sản xuất hỗ trợ nhau về kỹ thuật và tìm kiếm đầu ra.
Chị Phạm Thị Thúy Muội, thành viên Mộc gia Hội quán bày tỏ hy vọng: “Ước mơ lớn nhất của chúng tôi là được hỗ trợ đầu tư lò sấy hiện đại để nâng cao chất lượng, đưa chiếc thớt quê mình đi xa hơn”.
DƯƠNG ÚT


