Trường Đại học Cửu Long: Đẩy mạnh hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Thứ Sáu, 11/9/2026, 20:36 (GMT+7)
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên

Nhằm đánh giá kết quả triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 167/KH-UBND ngày 4-5-2026 của UBND tỉnh Vĩnh Long, Trường Đại học Cửu Long tổ chức hội nghị sơ kết, đồng thời xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm từ nay đến cuối năm, đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Quang cảnh hội nghị.

Tham dự hội nghị có các đồng chí: Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Phạm Minh Hoàng, Phó Bí thư Đảng ủy UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh. Về phía Trường Đại học Cửu Long có Nhà giáo Ưu tú, PGS.TS. Lương Minh Cừ, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng; cùng các Phó Hiệu trưởng, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc và hơn 110 sinh viên đại diện người học của trường dự hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, TS. Đặng Thị Ngọc Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long, khẳng định Nghị quyết số 57-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, nhà trường đã xây dựng kế hoạch, thành lập Ban Chỉ đạo và triển khai nhiệm vụ trong toàn trường. Qua thời gian triển khai, Trường Đại học Cửu Long đã từng bước cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết bằng những nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế, tạo chuyển biến từ quản trị, đào tạo đến nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp, địa phương.

Một trong những kết quả rõ nét là việc xây dựng nền tảng hạ tầng số. Hiện 100% đơn vị trực thuộc trường được kết nối mạng cáp quang tốc độ cao; toàn bộ phòng làm việc, giảng đường và thư viện được phủ Wi-Fi. Nhà trường vận hành 7 hệ thống phần mềm quản lý trên nền tảng UIS, đồng thời từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quản trị, đào tạo và hỗ trợ người học.

Đoàn chủ tọa điều hành hội nghị.

Riêng năm 2026, kinh phí đầu tư, duy trì và nâng cấp hạ tầng số của trường đạt hơn 6,3 tỷ đồng. Hệ thống E-Learning hiện phục vụ hơn 20.000 tài khoản; thư viện số cung cấp hơn 1,4 triệu tài liệu điện tử liên kết. Đây là nền tảng để nhà trường tiếp tục đổi mới phương thức quản lý, tổ chức dạy học và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn học liệu của sinh viên.

Chuyển đổi số được nhà trường gắn với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới. Trường đã mở ngành Trí tuệ nhân tạo, Kinh tế số, đồng thời tích hợp nội dung AI vào chương trình đào tạo. Qua đó, người học từng bước được trang bị kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ, dữ liệu và các công cụ số.

Trong nghiên cứu khoa học, mỗi năm trường dành hơn 4 tỷ đồng triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Nhà trường đã thực hiện 1 đề tài cấp Bộ, 3 đề tài cấp tỉnh, cùng hàng trăm đề tài cấp cơ sở và sinh viên; công bố hơn 53 bài báo quốc tế thuộc danh mục WoS/Scopus và hơn 217 bài báo trong nước.

Định hướng nghiên cứu cũng từng bước gắn với yêu cầu thực tiễn của địa phương và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tập trung vào các vấn đề như: Biến đổi khí hậu, nông nghiệp thông minh, chế biến thực phẩm, y dược và năng lượng tái tạo. Đây là cơ sở để hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ dừng ở công bố, mà hướng đến khả năng ứng dụng và chuyển giao.

TS. Đặng Thị Ngọc Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long, phát biểu khai mạc hội nghị.

Cùng với nghiên cứu, nhà trường đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp theo mô hình liên kết địa phương - nhà trường - doanh nghiệp. Đến nay, trường đã ký kết mới và tái ký kết với 33 doanh nghiệp, tập đoàn; trong đó hơn 75% thỏa thuận hợp tác được triển khai thành các hoạt động thực tế.

Theo TS. Đào Ngọc Điệp, Trưởng Khoa Kỹ thuật công nghệ, để mô hình liên kết này phát huy hiệu quả, cần xây dựng danh mục các bài toán công nghệ ưu tiên của tỉnh, tổ chức các nhóm nghiên cứu liên ngành, đưa doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu, đồng thời xây dựng cơ chế thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm. Các nhiệm vụ nghiên cứu cũng cần tính đến khả năng thương mại hóa ngay từ giai đoạn đầu.

Tại hội nghị tổng kết, 33 tham luận của các chuyên gia, nhà khoa học tập trung đánh giá những kết quả đạt được; đồng thời, đề xuất giải pháp trong các lĩnh vực hạ tầng số, nhân lực trí tuệ nhân tạo, khoa học sức khỏe, công nghệ vật liệu, nông nghiệp, thủy sản, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Qua các ý kiến, một định hướng được thống nhất là phát triển khoa học và công nghệ phải xuất phát từ thế mạnh, nhu cầu của địa phương và có sự tham gia của nhiều chủ thể. Nhà trường cần tiếp tục kết nối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp, cơ sở y tế, viện nghiên cứu và cộng đồng để nâng cao hiệu quả đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao.

Trong lĩnh vực khoa học sức khỏe, GS.TS. Đào Văn Dũng đề xuất 5 hướng đột phá gồm: Phát triển con người, xây dựng dữ liệu, đổi mới mô hình đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu - đổi mới sáng tạo và hình thành liên kết hệ sinh thái.

Các giải pháp này hướng đến mô hình đào tạo hiện đại, trong đó người học được phát triển năng lực thực hành, nghiên cứu, ứng dụng dữ liệu và công nghệ. Sự liên kết giữa nhà trường, cơ sở y tế, doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng sẽ giúp hoạt động đào tạo, nghiên cứu bám sát hơn nhu cầu của tỉnh Vĩnh Long và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đối với đào tạo nhân lực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo tiếp tục được xác định là lĩnh vực ưu tiên. Theo TS. Đào Văn Tuyết, Trưởng Khoa Công nghệ thông tin - Trí tuệ nhân tạo, đào tạo nhân lực AI chất lượng cao phải gắn với nâng cao năng lực số toàn diện cho người học.

Việc tích hợp Khung năng lực số DigiLit gồm 7 nhóm năng lực và 26 tiêu chuẩn vào chương trình đào tạo AI được kỳ vọng giúp sinh viên phát triển tư duy công nghệ, năng lực số, đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực ứng xử trong môi trường số.

Bên cạnh đó, vật liệu tiên tiến và kỹ thuật mô phỏng cũng là những hướng nghiên cứu được nhà trường quan tâm. Các nhóm nghiên cứu tập trung vào vật liệu nano, aerogel, vật liệu từ phế phụ phẩm nông nghiệp, công nghệ cảm biến, nano y sinh, nano dược phẩm và hệ dẫn truyền thuốc.

Việc gắn kỹ thuật mô phỏng với các chương trình nghiên cứu vật liệu góp phần mở rộng khả năng ứng dụng trong đào tạo, sản xuất và chuyển giao công nghệ. Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu, từng bước hình thành các nhóm chuyên môn có khả năng tạo ra sản phẩm khoa học - công nghệ.

Từ những kết quả bước đầu, Trường Đại học Cửu Long đã xác định các mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo. Mỗi năm, trường phấn đấu tăng từ 5 đến 10% số bài báo trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục Scopus và WoS, ưu tiên nhóm Q1, Q2; hỗ trợ đăng ký thành công từ 3 đến 5 bằng bảo hộ giải pháp hữu ích hoặc bằng sáng chế.

Nhà trường cũng hướng đến thành lập ít nhất một doanh nghiệp khoa học - công nghệ trực thuộc trường để thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đưa sản phẩm ra thị trường. Cùng với đó là ưu tiên đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực bán dẫn, thiết kế vi mạch, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ sinh học hiện đại; tăng cường hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn.

Hội nghị cũng thẳng thắn đánh giá những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Kế hoạch số 167/KH-UBND. Từ đó, nhà trường xác định tiếp tục đổi mới phương thức triển khai, tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có thế mạnh, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và tăng cường kết nối với địa phương, doanh nghiệp.

NGUYỄN VĂN DÔ - T. MỸ - V.D 

Bình luận