KỶ NIỆM 115 NĂM NGÀY CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (5-6-1911 - 5-6-2026)

Từ Bến Nhà Rồng đến khát vọng giải phóng dân tộc

Chủ Nhật, 07/06/2026, 08:37 (GMT+7)
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên

Nhìn lại lịch sử cách đây 115 năm, ngày 5-6-1911 trở thành một dấu mốc định mệnh của nước nhà. Với ý chí kiên cường, khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rời Bến Nhà Rồng, bắt đầu hành trình vĩ đại đi tìm đường cứu nước.

TƯ DUY CHÍNH TRỊ THIÊN TÀI CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp, trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Dưới ách áp bức, bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi và anh dũng với nhiều khuynh hướng khác nhau. 

Hình ảnh, tư liệu trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tái hiện sinh động hành trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài, minh chứng sinh động cho quá trình Người bôn ba tìm đường cứu nước và chuẩn bị những tiền đề quan trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên, những con đường cứu nước do những sĩ phu tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng HoAa Thám… khởi xướng đều lần lượt thất bại, đưa cách mạng Việt Nam vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo. 

Đây không chỉ là thách thức lớn đối với dân tộc, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tìm kiếm một con đường phát triển mới, phù hợp với xu thế vận động của thời đại và quy luật phát triển của lịch sử.

Lúc bấy giờ, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận thức được rằng, muốn giải phóng dân tộc thành công thì cần phải tìm ra một con đường cứu nước khác với những lối đi đã thất bại trước đó. 

Ngày 5-6-1911, tại cảng Nhà Rồng, với tên gọi Văn Ba, trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville, Người đã khởi hành sang Pháp - bắt đầu hành trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Gần 10 năm đi qua nhiều châu lục (châu Âu, châu Phi, châu Mỹ) đã trở thành giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong quá trình hình thành tư duy chính trị và tầm nhìn cách mạng của Người. 

Không chỉ tận mắt chứng kiến thực trạng của thế giới tư bản chủ nghĩa, Người còn nhận thức sâu sắc những mâu thuẫn cơ bản của thời đại; đặc biệt, là sự đối lập giữa giàu và nghèo, giữa các dân tộc bị áp bức với các thế lực đế quốc thống trị. 

Đồng thời, nhiều học thuyết tiến bộ, nhiều mô hình cách mạng đã được Người tìm hiểu. Theo Người, đó vẫn là những cuộc cách mạng “chưa đến nơi”... Đây là cơ sở quan trọng để Người tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam sau này.

Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6-1919, thay mặt Hội Những người yêu nước Việt Nam, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Véc-xây. Nội dung của bản yêu sách là đòi những quyền tối thiểu cho người dân bản xứ; tuy nhiên, bản yêu sách này đã không nhận được câu trả lời.

Tháng 7-1920 trở thành một dấu mốc đặc biệt trong hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Khi tiếp cận bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin, Người đã tìm thấy ánh sáng soi đường cho khát vọng giải phóng dân tộc bấy lâu nung nấu. Từ nhận thức sâu sắc ấy, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Tháng 12-1920, việc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. 

Từ một người yêu nước cháy bỏng khát vọng độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc trở thành người chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Việt Nam. 

Cũng từ đây, Người kiên trì truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào yêu nước trong nước, từng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo cách mạng, mở ra một thời kỳ phát triển mới, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vững vàng tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Sau hành trình 30 năm bôn ba ở nước ngoài, ngày 28-1-1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dưới sự dẫn dắt của Người và của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được khơi dậy mạnh mẽ, làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc: Kỷ nguyên độc lập và dân chủ.

Từ mốc son chói lọi ấy, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân Việt Nam đã viết nên những trang sử hào hùng bằng hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại độc lập, thống nhất non sông. 

Bước vào thời kỳ đổi mới, bằng bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược, Đảng đã lãnh đạo đất nước lựa chọn con đường phát triển đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và nguyện vọng của Nhân dân, lập nên những kỳ tích mới, tiếp tục khẳng định vị thế, tiềm lực và uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

ĐẨY MẠNH HỌC, LÀM THEO VÀ NÊU GƯƠNG BÁC

Nhận thức sâu sắc giá trị to lớn và ý nghĩa lâu dài của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, những năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã xác định việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (gọi tắt là học và làm theo Bác) là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, là công việc tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên.

Tượng Nguyễn Tất Thành tại Bến Nhà Rồng, nơi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 5-6-1911, (nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh) trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng và lan tỏa giá trị di sản Hồ Chí Minh đến các thế hệ hôm nay.

Việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị, ngày 15-5-2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Kết luận số 01-KL/TW và các chuyên đề hằng năm được cấp ủy cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Nội dung học tập và làm theo Bác được lồng ghép vào sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chuyên đề, các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động và nhiệm vụ chuyên môn của từng cơ quan, đơn vị… 

Một trong những yếu tố tạo nên hiệu quả của việc học tập và làm theo Bác chính là sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. 

Các cấp ủy đã chú trọng gắn việc học tập và làm theo Bác với trách nhiệm nêu gương, xem đây là thước đo phẩm chất, năng lực và uy tín của cán bộ. Qua đó, nhận thức chính trị, tinh thần trách nhiệm, ý thức nêu gương, tác phong và lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên tiếp tục được nâng lên, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

LÊ NGUYÊN

Bình luận