Từ hào quang sàn đấu đến trách nhiệm đối với người khuyết tật

Thứ Năm, 05/02/2026, 22:06 (GMT+7)

Thành tích thể thao của Đoàn Thể thao người khuyết tật Việt Nam tại ASEAN Para Games 13 vừa qua đã mang lại hình ảnh tích cực về các vận động viên người khuyết tật. Vấn đề đặt ra là trách nhiệm xã hội trong việc tháo gỡ rào cản, mở rộng cơ hội hòa nhập một cách thực chất của cộng đồng người khuyết tật nói chung.

Chung kết bắn cung đôi nữ tại ASEAN Para Games 13, cặp vận động viên Biện Thị Chung và Huỳnh Thị Hạnh giành Huy chương bạc.

ASEAN Para Games 13 vừa khép lại đầu năm nay với những con số thành tích giàu ý nghĩa. Đoàn Thể thao người khuyết tật Việt Nam giành 38 Huy chương vàng, 48 Huy chương bạc, 58 Huy chương đồng, xếp thứ 5 toàn đoàn, trong bối cảnh lực lượng vận động viên mỏng hơn nhiều so các quốc gia trong khu vực. Thành tích ấy không chỉ phản ánh sự chuẩn bị nghiêm túc về chuyên môn, mà còn cho thấy bản lĩnh, ý chí và khát vọng khẳng định giá trị của các vận động viên người khuyết tật Việt Nam trên đấu trường khu vực.

Trên sân đấu, mỗi lần chạm đích, mỗi lần nâng tạ hay ghi điểm đều là kết quả của quá trình vượt lên giới hạn bản thân của các vận động viên người khuyết tật, qua đó truyền đi thông điệp tích cực về nghị lực sống và niềm tin. Thể thao, ở góc độ ấy, đã trở thành không gian để người khuyết tật khẳng định năng lực thực chất, thoát khỏi cái nhìn cảm tính hay thương hại.

Kình ngư Vi Thị Hằng xuất sắc giành 4 Huy chương vàng, thiết lập 2 kỷ lục mới tại các nội dung bơi ngửa.

Tuy nhiên, ánh hào quang của các kỳ Đại hội cũng gợi mở những suy ngẫm rộng hơn. Những vận động viên bước lên bục vinh quang chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong cộng đồng hàng triệu người khuyết tật trên cả nước. Phía sau những tấm huy chương là thực tế đời sống còn nhiều khó khăn: hạn chế trong tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, không gian công cộng và cơ hội hòa nhập xã hội. Từ thể thao, câu chuyện đặt ra yêu cầu chăm lo toàn diện cho người khuyết tật bằng cách tiếp cận dài hạn, đồng bộ và thực chất hơn.

Qua thời gian công tác lâu năm với người khuyết tật ở cơ sở, ông Phùng Xuân Quý, nguyên Phó Chủ tịch Hội Người khuyết tật, nạn nhân da cam và bảo trợ trẻ em tỉnh Quảng Trị cho rằng, khoảng cách lớn nhất hiện nay không nằm ở sự thiếu vắng chính sách, mà ở khả năng tiếp cận và nhận thức xã hội. Nhiều chủ trương đúng đã được ban hành, song khi đi vào đời sống vẫn gặp không ít lực cản, khiến người khuyết tật khó tiếp cận giáo dục, giao thông, không gian làm việc và các dịch vụ công cơ bản.

Theo ông Quý, cách tiếp cận thiên về trợ cấp tuy cần thiết nhưng chưa đủ để giúp người khuyết tật thoát khỏi tình trạng phụ thuộc. “Điều người khuyết tật cần hơn cả là cơ hội việc làm phù hợp để tự lập, giảm mặc cảm và có thể đóng góp cho gia đình, xã hội”. Ông Quý cho rằng việc mở rộng các mô hình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, đồng thời cải thiện điều kiện tiếp cận về hạ tầng và môi trường làm việc, sẽ quyết định hiệu quả hòa nhập của người khuyết tật.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, ông Quý đặc biệt lưu ý đến vai trò của công nghệ và kỹ năng số. Theo ông, bên cạnh là công cụ hỗ trợ, đây đồng thời là “cánh cửa mới” giúp người khuyết tật vượt qua những hạn chế về di chuyển, mở rộng cơ hội việc làm từ xa và đưa sản phẩm, dịch vụ của họ đến gần hơn với thị trường. “Khi rào cản được gỡ bỏ và cơ hội được trao đúng cách, người khuyết tật hoàn toàn có thể tự đứng trên đôi chân của mình”, ông Quý khẳng định.

Nhận thức ấy ngày càng được thể hiện rõ trong các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, người khuyết tật được xác định là bộ phận không tách rời của cộng đồng, có đầy đủ quyền sống, học tập, lao động và tham gia các hoạt động xã hội. Việc chăm lo cho người khuyết tật được coi là thước đo của một xã hội văn minh, gắn với mục tiêu phát triển bền vững và bảo đảm quyền con người.

Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1-1-2026, đã bổ sung các quy định cụ thể về cho vay giải quyết việc làm, đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề cho người khuyết tật và người trực tiếp chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng. Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt từ hỗ trợ mang tính trợ cấp sang tạo sinh kế, trao cơ hội để người khuyết tật chủ động tham gia thị trường lao động.

Cùng với đó, Quyết định số 1190/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021-2030 và kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 444-TB/VPTW ngày 5-12-2025 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ cách tiếp cận “y tế-chăm sóc” sang “xã hội-hòa nhập”, hướng tới loại bỏ định kiến, giảm bất bình đẳng và trao quyền cho người khuyết tật.

Trong đời sống xã hội, thể thao người khuyết tật giữ vai trò đặc biệt. Không những là hoạt động rèn luyện hay tranh tài, thể thao tạo ra môi trường để người khuyết tật khẳng định năng lực, xây dựng sự tự tin và vị thế xã hội. Những vận động viên khoác áo đội tuyển quốc gia không chỉ đại diện cho thành tích thể thao, mà còn trở thành hình ảnh truyền cảm hứng mạnh mẽ về khả năng vươn lên và đóng góp.

Những chính sách mới theo Nghị định số 349/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ tháng 2-2026, với việc điều chỉnh chế độ tập huấn, dinh dưỡng, đãi ngộ và giải quyết việc làm cho huấn luyện viên, vận động viên cho thấy cách nhìn ngày càng toàn diện hơn về an sinh trong lĩnh vực thể thao thành tích cao, trong đó có thể thao người khuyết tật.

Một trong những minh chứng rõ nét cho cách tiếp cận việc được trao cơ hội và phát huy năng lực của người khuyết tật là câu chuyện của chị Lương Thị Minh Nguyệt ở Hà Nội. Sau tai nạn cột sống khiến chị phải di chuyển bằng xe lăn, thế nhưng, thay vì thu mình trước những giới hạn thể chất, chị lựa chọn con đường tham gia sâu vào các hoạt động giáo dục nghề nghiệp, phát triển sinh kế và kết nối cộng đồng dành cho người khuyết tật. Hiện nay, chị đảm nhiệm nhiều vai trò như: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc doanh nghiệp xã hội Khát Vọng, Ủy viên Ban Chấp hành Ủy ban Paralympic Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ Chấn thương cột sống Việt Nam, Ủy viên Hội Người khuyết tật thành phố Hà Nội.

Chị Lương Thị Minh Nguyệt (mặc váy trắng, thứ tự thứ tư từ trái sang).
Chị Lương Thị Minh Nguyệt và các vận động viên tham dự Giải pickleball người khuyết tật Hà Nội mở rộng năm 2025.

Bản thân là người khuyết tật và qua quá trình đồng hành cùng nhiều người khuyết tật, chị Nguyệt cho rằng, rào cản lớn nhất không nằm ở khiếm khuyết cơ thể, mà ở những “bức tường vô hình” do định kiến xã hội, hạ tầng chưa tiếp cận và cách tiếp cận còn thiên về hỗ trợ mang tính thương hại. “Nhiều cánh cửa khép lại không phải vì người khuyết tật không đủ năng lực, mà vì xã hội chưa đủ niềm tin để trao cơ hội”, chị Nguyệt chia sẻ. Theo chị, nếu chỉ dừng ở trợ cấp, người khuyết tật rất khó thoát khỏi vòng luẩn quẩn phụ thuộc; điều cốt lõi là đầu tư vào giáo dục nghề nghiệp, việc làm phù hợp với từng dạng khuyết tật và xây dựng môi trường làm việc tiếp cận thực chất.

Từ thực tiễn điều hành doanh nghiệp xã hội và tham gia các tổ chức đại diện cho người khuyết tật, chị Nguyệt nhấn mạnh rằng khi được đào tạo bài bản, tiếp cận công nghệ và thị trường, nhiều người khuyết tật có thể tự ổn định sinh kế và tạo ra giá trị kinh tế và xã hội. Quan trọng hơn, việc được tin tưởng và trao quyền giúp họ lấy lại sự tự tin, khẳng định vai trò chủ thể trong cộng đồng, từ đó lan tỏa những giá trị tích cực về hòa nhập và phát triển lâu bền.

Còn với anh Phạm Xuân Huy, một người khuyết tật khác tại Hà Nội cho rằng, những tấm huy chương tại các kỳ Đại hội mang lại niềm tự hào, nhưng không phản ánh hết đời sống của cộng đồng người khuyết tật. “Chúng tôi cần được nhìn nhận bằng sự tôn trọng, có cơ hội học tập, việc làm công bằng và môi trường tiếp cận tốt hơn để sống tự lập và đóng góp cho xã hội”, anh Huy bày tỏ.

Từ thành tích tại ASEAN Para Games 13 đến những câu chuyện đời sống cụ thể, có thể thấy rõ rằng trách nhiệm xã hội đối với người khuyết tật không dừng lại ở những khoảnh khắc vinh quang. Điều quan trọng hơn là tiếp tục tháo gỡ các rào cản hữu hình và vô hình, từ nhận thức, chính sách đến môi trường sống, để người khuyết tật thực sự được trao cơ hội, được tin tưởng và phát triển toàn diện. Đó vừa là trách nhiệm với một nhóm xã hội, vừa là thước đo cho tính nhân văn và bền vững của sự phát triển đất nước.

Theo nhandan.vn

Bình luận