CHUYÊN MỤC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Vườn Quốc gia Tràm Chim: Ứng dụng công nghệ bảo tồn hệ sinh thái đặc trưng
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
(ĐTO) Trước những biến động ngày càng phức tạp của khí hậu và thủy văn, Vườn Quốc gia (VQG) Tràm Chim đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ quan trắc tự động, viễn thám, bản đồ số GIS, camera giám sát và thiết bị bay không người lái, từng bước hình thành phương thức quản trị hệ sinh thái dựa trên dữ liệu.
Với hơn 7.300 ha, VQG Tràm Chim là hệ sinh thái đất ngập nước tiêu biểu của vùng Đồng Tháp Mười, gồm: Rừng tràm, đồng cỏ ngập nước và nhiều quần xã, quần thể thực vật đặc trưng như: Lúa ma, cỏ ống, cỏ bắc, hoàng đầu ấn, sen, bông súng…

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ ĐỂ NHẬN DIỆN SỚM BIẾN ĐỘNG SINH THÁI
Giá trị đa dạng sinh học của VQG Tràm Chim được tạo nên từ cấu trúc sinh cảnh phong phú, phân bố đan xen trên một không gian rộng lớn. Trong đó, mỗi quần xã thực vật có ngưỡng sinh thái và chế độ thủy văn riêng. Rừng tràm, đồng cỏ, lúa ma, cỏ ống, cỏ bắc, hoàng đầu ấn, sen hay bông súng phản ứng khác nhau trước những biến động về độ sâu ngập, thời gian ngập, độ ẩm đất, độ pH và chất lượng nước.
Đặc điểm này đặt ra yêu cầu cao đối với công tác bảo tồn. Chỉ một thay đổi kéo dài về chế độ thủy văn cũng có thể làm biến đổi cấu trúc quần xã, quần thể thực vật, làm thu hẹp sinh cảnh đặc trưng hoặc làm suy giảm nguồn thức ăn của các loài động vật. Vì vậy, bảo tồn VQG Tràm Chim không chỉ dừng lại ở bảo vệ diện tích, mà phải theo dõi chất lượng sinh cảnh, khả năng phục hồi và mức độ ổn định của từng phân khu chức năng.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến cực đoan, phương thức quản lý chủ yếu dựa vào tuần tra thực địa, quan sát trực tiếp và kinh nghiệm gặp nhiều hạn chế. Diện tích quản lý lớn, nhiều phân khu lõi khó tiếp cận, trong khi diễn biến của hệ sinh thái cần được ghi nhận liên tục, khiến yêu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ trở nên cấp thiết.
Theo ông Cao Thái Phong, Phó Giám đốc VQG Tràm Chim, đơn vị đang từng bước chuyển từ phương thức quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu thực tế. Công nghệ giúp mở rộng phạm vi giám sát, phát hiện sớm những biến động bất thường và cung cấp cơ sở khoa học để lực lượng chuyên môn lựa chọn giải pháp can thiệp phù hợp.
Tại Trung tâm điều hành của VQG Tràm Chim, hệ thống 24 camera chuyên dụng có độ phân giải cao, tầm quan sát rộng được bố trí ở các khu vực trọng điểm, truyền tín hiệu liên tục về màn hình giám sát. Hệ thống tạo thành lớp giám sát từ xa, hỗ trợ phát hiện khói, lửa, hành vi xâm nhập trái phép và những biến động bất thường trên bề mặt sinh cảnh.
Thông tin hình ảnh giúp lực lượng bảo vệ rừng khoanh vùng, xác định vị trí và điều động nhân lực kiểm tra có trọng tâm, thay cho việc tuần tra dàn trải.

Anh Phan Hữu Tình, cán bộ Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Phòng cháy, chữa cháy rừng, VQG Tràm Chim, cho biết với hơn 7.300 ha, nếu chỉ tuần tra trực tiếp thì rất khó theo dõi toàn bộ địa bàn. Camera và thiết bị bay không người lái giúp cán bộ quan sát từ xa, xác định tọa độ khi phát hiện dấu hiệu bất thường, qua đó tổ chức kiểm tra, xử lý chính xác và kịp thời hơn.
Thiết bị bay không người lái còn mở rộng khả năng giám sát tại các khu vực lõi khó tiếp cận. Dữ liệu ảnh trên cao hỗ trợ khảo sát độ che phủ thực vật, nhận diện ranh giới sinh cảnh, theo dõi hiện trạng bề mặt và phát hiện khu vực có dấu hiệu suy thoái. Khi được thu thập theo định kỳ, dữ liệu ảnh trở thành căn cứ đối chiếu, đánh giá sự dịch chuyển hoặc biến động của các quần xã thực vật theo không gian và thời gian.

Việc kết hợp camera, thiết bị bay không người lái và tuần tra thực địa đang từng bước hình thành cơ chế giám sát đa tầng. Trong đó, công nghệ thực hiện chức năng quan sát trên diện rộng và cảnh báo ban đầu; lực lượng chuyên môn kiểm tra hiện trường, xác định nguyên nhân và lựa chọn biện pháp xử lý. Cách làm này giúp Vườn chuyển dần từ xử lý bị động sang giám sát, dự báo và phòng ngừa rủi ro sinh thái.
BẢO TỒN HỆ SINH THÁI DỰA TRÊN DỮ LIỆU
Nếu camera và thiết bị bay không người lái giúp theo dõi biến động trên bề mặt, thì hệ thống quan trắc tự động cung cấp dữ liệu về những yếu tố môi trường quyết định sức khỏe hệ sinh thái. VQG Tràm Chim hiện vận hành các thiết bị đo khí tượng thủy văn và cảm biến chất lượng nước, theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, tốc độ gió, độ pH, oxy hòa tan cùng nhiều thông số liên quan.
Dữ liệu được cập nhật thường xuyên, tích hợp vào thiết bị thông minh của cán bộ quản lý. Đây là nguồn thông tin đầu vào quan trọng để đánh giá trạng thái môi trường, nhận diện xu hướng biến đổi và xác lập ngưỡng cảnh báo đối với từng phân khu. Qua đó, quyết định quản lý từng bước được “định lượng hóa”, giảm phụ thuộc vào quan sát tại một thời điểm riêng lẻ.

Theo ông Đoàn Văn Nhanh, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Hợp tác quốc tế thuộc VQG Tràm Chim, trước đây công tác quan trắc chủ yếu thực hiện thủ công, dữ liệu có thời điểm còn phân tán, gây khó khăn cho việc tổng hợp và tham mưu. Khi hình thành chuỗi dữ liệu liên tục, cán bộ chuyên môn có điều kiện phân tích xu thế biến động của sinh cảnh, xây dựng cảnh báo và đề xuất giải pháp kịp thời.
Đối với VQG Tràm Chim, chế độ thủy văn là yếu tố chi phối cấu trúc và chức năng của toàn bộ hệ sinh thái. Tuy nhiên, điều tiết nước không thể áp dụng đồng loạt cho tất cả khu vực. Mỗi quần xã thực vật có yêu cầu khác nhau về cao trình, độ sâu ngập và thời gian duy trì nước. Nếu ngập sâu hoặc kéo dài không phù hợp, một số thảm thực vật đặc trưng có thể suy giảm; ngược lại, thiếu nước cũng ảnh hưởng đến thủy sinh vật, nguồn lợi thủy sản và sinh cảnh kiếm ăn của chim nước.

Trên cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn, chất lượng nước và hiện trạng thảm thực vật, cán bộ chuyên môn có thể xác định phân khu cần giữ nước, tháo nước hoặc điều chỉnh mực nước theo từng giai đoạn. Việc vận hành 8 máy bơm công suất lớn và 15 máy bơm phục vụ chữa cháy được gắn với yêu cầu quản lý thủy văn, vừa bảo đảm nguồn nước bảo vệ rừng, vừa duy trì mực nước sinh thái phù hợp.
Cùng với quan trắc tự động, công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý GIS hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu không gian cho từng kiểu sinh cảnh. Các lớp dữ liệu về rừng tràm, đồng cỏ, lúa ma, cỏ ống, cỏ bắc, hoàng đầu ấn, sen, bông súng có thể được chồng xếp với thông tin thủy văn, chất lượng nước và hiện trạng sử dụng đất. Qua đó, cán bộ chuyên môn nhận diện mối tương quan giữa điều kiện môi trường và sự biến động của thảm thực vật.
Bản đồ số cũng giúp xác định những khu vực có sinh cảnh ổn định, vùng đang suy giảm và nơi cần ưu tiên phục hồi. Thay vì chỉ ghi nhận tổng diện tích, dữ liệu GIS cho phép quản lý đến từng phân khu, theo dõi ranh giới phân bố, độ che phủ và tốc độ biến động của quần xã thực vật qua từng thời điểm.

Khi dữ liệu quan trắc, ảnh viễn thám, hình ảnh từ thiết bị bay không người lái và kết quả điều tra thực địa được tích hợp, VQG Tràm Chim có thể từng bước xây dựng “hồ sơ sinh thái” cho từng sinh cảnh. Chuỗi dữ liệu này không chỉ phục vụ quản lý trước mắt, mà còn tạo nền tảng đánh giá sức chống chịu và hiệu quả phục hồi của hệ sinh thái trong dài hạn.
Ứng dụng khoa học, công nghệ tại VQG Tràm Chim vì vậy không đơn thuần là trang bị thiết bị hiện đại, mà giá trị cốt lõi nằm ở khả năng chuyển dữ liệu thành thông tin khoa học, từ thông tin thành dự báo và từ dự báo thành quyết định bảo tồn. Sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại, điều tra thực địa và kinh nghiệm của lực lượng giữ rừng đang giúp VQG Tràm Chim từng bước tiếp cận phương thức quản lý thích ứng. Khoa học, công nghệ đang trở thành công cụ quan trọng để gìn giữ tính toàn vẹn của hệ sinh thái đất ngập nước VQG Tràm Chim trước tác động của biến đổi khí hậu.
MỸ LÝ - M.T
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH ĐỒNG THÁP
PHỐI HỢP THỰC HIỆN


