Việt Nam có tài nguyên văn hóa dồi dào, nhưng để mang lại giá trị lớn cho quốc gia, nguồn lực này cần được các chủ thể đủ năng lực tổ chức, sản xuất và đưa ra thị trường. Phát triển công nghiệp văn hóa được xác định là một đột phá chiến lược, đi cùng với đó là yêu cầu hình thành những tập đoàn văn hóa lớn, đủ tiềm lực tạo ra giá trị kinh tế tương xứng và định vị thương hiệu văn hóa Việt Nam trên bản đồ thế giới.
TỪ NỀN TẢNG TINH THẦN ĐẾN ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG
Ngay từ những ngày đầu lập nước, Đảng ta luôn xác định văn hóa là lĩnh vực có vị trí đặc biệt quan trọng, gắn bó hữu cơ với chính trị và kinh tế, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Bước vào thời kỳ đổi mới, tư duy của Đảng về văn hóa tiếp tục được phát triển theo hướng toàn diện và hiện đại hơn. Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, tiêu biểu là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… đã từng bước làm rõ vai trò của văn hóa và con người Việt Nam trong chiến lược phát triển đất nước. Tại Đại hội XIV, Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hóa thật sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước”.
Đặc biệt, ngày 7-1-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, đặt mục tiêu đến năm 2030 “xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo”. Văn hóa được đặt vào vị thế mới: Không chỉ là đối tượng cần bảo tồn, mà còn là một ngành kinh tế cần những chủ thể đủ lớn dẫn dắt.
Yêu cầu ấy xuất phát từ chính thực tiễn. Tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào GDP đã tăng từ 2,68% năm 2015 lên khoảng 5% năm 2025. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 (chiến lược) đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đưa mức đóng góp lên 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Công nghiệp văn hóa ngày càng lớn mạnh, nhưng vẫn thiếu những doanh nghiệp đủ tầm dẫn dắt cả hệ sinh thái.
Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, đặt mục tiêu đến năm 2030 “xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo”. Văn hóa được đặt vào vị thế mới: Không chỉ là đối tượng cần bảo tồn, mà còn là một ngành kinh tế cần những chủ thể đủ lớn dẫn dắt. |
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, sức mạnh mềm quốc gia gắn liền với khả năng kiến tạo một nền công nghiệp có sản phẩm đa dạng, có thương hiệu, có hệ thống phân phối riêng. Hàn Quốc là minh chứng tiêu biểu: Năm 2025, giá trị xuất khẩu nội dung văn hóa (K-content) của nước này đạt kỷ lục 14,9 tỷ USD; nếu tính cả thực phẩm và mỹ phẩm được làn sóng văn hóa kéo theo, con số lên tới gần 38 tỷ USD. Đứng sau đó là các tập đoàn như CJ ENM, SM, YG, HYBE.
Vấn đề này đã được đặt ra tại hội nghị sơ kết sáu tháng đầu năm 2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ông Đinh Bá Thành, Chủ tịch sáng lập DatVietVAC, cho rằng, để công nghiệp văn hóa Việt Nam có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, cần hình thành những doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt ngành. Ông nhấn mạnh: “Nếu không có “kỳ lân công nghiệp” văn hóa, sẽ không có công nghiệp văn hóa cạnh tranh toàn cầu”. Theo ông, thành công của K-Culture không chỉ đến từ nghệ sĩ hay những bộ phim nổi tiếng, mà còn nhờ những doanh nghiệp biết sáng tạo tài sản trí tuệ (IP), quản trị nghệ sĩ, xây dựng cộng đồng người hâm mộ và mở rộng chuỗi giá trị sang âm nhạc, thời trang, du lịch, tiêu dùng. Chính lớp doanh nghiệp ấy đã góp phần hình thành hơn 10 “kỳ lân công nghiệp văn hóa” của Hàn Quốc.
Để công nghiệp văn hóa Việt Nam có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, cần hình thành những doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt ngành.Nếu không có “kỳ lân công nghiệp” văn hóa, sẽ không có công nghiệp văn hóa cạnh tranh toàn cầu.
Ông Đinh Bá Thành, Chủ tịch sáng lập DatVietVAC
Việt Nam có dân số đông, tỷ lệ sử dụng internet cao, kho tàng văn hóa phong phú, nhưng những lợi thế ấy khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh nếu thiếu các doanh nghiệp đủ khả năng tổ chức toàn bộ chuỗi giá trị, từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối và thương mại hóa.
NHỮNG NÚT THẮT CẦN THÁO GỠ
Tiềm năng của Việt Nam đã được kiểm chứng ở một số lĩnh vực phát triển nhanh như du lịch, điện ảnh, game. Riêng năm 2025, các studio game trong nước phát hành hơn 27.000 tựa game mới, đạt 4,9 tỷ lượt tải, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 2 thế giới về lượt tải game di động. Nhưng từ tiềm năng đến một tập đoàn lớn mạnh vẫn là chặng đường dài.
Vấn đề đầu tiên cần quan tâm là vốn và quản trị. Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân chỉ rõ: Hầu hết doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa; tiềm lực tài chính và trình độ quản trị hạn chế. Thực trạng ấy càng rõ trong lĩnh vực văn hóa, nơi phần lớn đơn vị vẫn vận hành theo mô hình ê-kíp nhỏ, thiếu đội ngũ doanh nhân văn hóa chuyên nghiệp biết giúp đưa các ý tưởng sáng tạo trở thành chuỗi giá trị có thể nhân rộng.
Tiếp đó là bài toán sở hữu trí tuệ. Ông Thành cho rằng, nếu chỉ dừng ở sản xuất chương trình hay khai thác doanh thu một lần, giá trị tạo ra sẽ hạn chế. Cùng quan điểm, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nhận định giá trị lớn nhất của công nghiệp văn hóa nằm ở chỗ ai sở hữu ý tưởng gốc, ai nắm quyền khai thác và ai đủ khả năng phát triển một tài sản trí tuệ thành cả hệ sinh thái. Soi vào thực tế, không ít dự án văn hóa Việt Nam vẫn làm theo lối từng sản phẩm đơn lẻ, thiếu chiến lược để một tác phẩm lan tỏa sang truyện tranh, trò chơi, hàng lưu niệm, du lịch. Vi phạm bản quyền trên môi trường số cũng khiến nhiều nhà sáng tạo khó thu hồi vốn để tái đầu tư.
Cùng với đó là nút thắt về cơ chế thị trường. Không ít nhóm phát triển game Việt phải sang Singapore lập công ty để đưa sản phẩm ra quốc tế rồi mới quay về, không phải vì sính ngoại, mà vì quy định trong nước chưa đủ linh hoạt với mô hình kinh doanh mới. Thị trường nội địa, dù đang lớn lên, vẫn nhỏ so với chi phí đầu tư cho một sản phẩm đạt chất lượng quốc tế. Mục tiêu 7% GDP vào năm 2030 tuy khả thi, nhưng chỉ trong tầm tay nếu những nút thắt này được tháo gỡ đồng bộ.
NỖ LỰC ĐƯA CÁC CHÍNH SÁCH THÀNH BỆ PHÓNG
Khát vọng chỉ trở thành hiện thực khi chính sách được cụ thể hóa bằng những công cụ thực thi rõ ràng. Theo các chuyên gia, có ba hướng đi cần được ưu tiên triển khai: Trước hết là khơi thông dòng vốn và hoàn thiện thể chế cho tài sản trí tuệ. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2026, cho phép dùng bản quyền, kịch bản, nhân vật, thương hiệu làm tài sản bảo đảm để tiếp cận tín dụng, tạo “vốn mồi” (seed funding/catalytic capital). Đây là đòn bẩy giúp các studio game, hoạt hình, thiết kế thoát khỏi thế làm gia công, tự chủ sản phẩm trí tuệ riêng. Tuy nhiên, nếu thiếu công cụ định giá độc lập, cơ chế doanh nghiệp tự xác định giá trị tài sản trí tuệ dễ bị lợi dụng để nâng khống, gây rủi ro ngược cho chính thị trường. Cùng với đó, tinh thần lấy doanh nghiệp làm trung tâm của Nghị quyết số 68-NQ/TW cần được cụ thể hóa bằng những quỹ đầu tư mạo hiểm cho văn hóa, chấp nhận độ trễ dài hơn các ngành kinh tế thông thường.
Thứ hai là chủ động chọn lọc, nâng đỡ những doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt. Tại hội nghị sơ kết của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đề xuất xây dựng cơ chế phát triển doanh nghiệp dẫn dắt ngành, tương tự chính sách dành cho các lĩnh vực kinh tế ưu tiên, đã được ghi nhận; kèm theo là cơ chế thẩm định “360 độ” để tuyển chọn doanh nghiệp tư nhân có năng lực nổi bật, tiệm cận mức vốn hóa 1 tỷ USD, trở thành thương hiệu quốc gia, dựa trên ba nhóm tiêu chí: Sáng tạo và sở hữu IP nguyên bản; ứng dụng công nghệ, phát triển tài sản số; thương mại hóa nội dung và mở rộng hợp tác quốc tế. Song song là quy hoạch bài bản các trung tâm công nghiệp văn hóa tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh như chiến lược đã đề ra, và khuyến khích mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp với địa phương để chuyển hóa bản sắc vùng miền thành sản phẩm văn hóa, du lịch, nội dung số.
Giá trị lớn nhất của công nghiệp văn hóa nằm ở chỗ ai sở hữu ý tưởng gốc, ai nắm quyền khai thác và ai đủ khả năng phát triển một tài sản trí tuệ thành cả hệ sinh thái.Nội dung trích dẫn...
PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương
Thứ ba là tạo hành lang pháp lý cho những mô hình kinh doanh chưa có tiền lệ, nhất là trong game, nội dung số, nơi tốc độ đổi mới luôn đi trước quy định. Cho phép thử nghiệm có kiểm soát, rút ngắn thủ tục gia nhập thị trường sẽ giúp các nhóm phát triển game Việt Nam không phải xuất ngoại chỉ để hợp thức hóa sản phẩm; đồng thời cần liên kết các hiệp hội ngành nghề để tạo tiếng nói chung khi đàm phán bản quyền, phân phối với các nền tảng quốc tế.
Ba hướng đi này phải gắn kết chặt chẽ, bởi vốn dồi dào mà thiếu người quản trị giỏi cũng dễ lãng phí; doanh nghiệp được nâng đỡ khó bứt phá nếu tài sản trí tuệ chưa được định giá minh bạch; và hành lang pháp lý cởi mở cũng không phát huy tác dụng nếu doanh nghiệp không đủ lực để tận dụng. Khát vọng về những “kỳ lân” công nghiệp văn hóa Việt Nam vì thế không chỉ là câu chuyện riêng của ngành văn hóa, mà đòi hỏi năng lực kiến tạo thể chế của cả nền kinh tế. Chính sách đã mở đường; phần còn lại thuộc về bản lĩnh và tầm nhìn của những doanh nghiệp Việt Nam dám bước ra biển lớn.
Theo nhandan.vn
https://nhandan.vn/khat-vong-ve-nhung-ky-lan-van-hoa-post996321.html