Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
Tại Hội thảo khoa học “Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số” vừa diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, điện ảnh được xác định là một trong những lĩnh vực giàu tiềm năng của công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Thị trường điện ảnh trong nước đang có tốc độ tăng trưởng vượt bậc. Năm 2024, doanh thu phòng vé đạt gần 4.700 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến thời điểm này. Chỉ một năm sau, kỷ lục mới được xác lập ở mức hơn 6.140 tỷ đồng. Đáng chú ý, thị phần phim nội địa đã tăng từ 44% năm 2024 lên 62% năm 2025. Bước sang năm 2026, thị trường tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với doanh thu đạt 1.080 tỷ đồng trong quý I, theo Box Office Vietnam.
Nếu cách đây khoảng 10 năm, việc một bộ phim Việt vượt mốc 100 tỷ đồng doanh thu được xem là hiện tượng hiếm gặp thì nay những tác phẩm cán mốc vài trăm tỷ đồng đã không còn xa lạ. Sự thay đổi ấy phản ánh năng lực sản xuất ngày càng được cải thiện cũng như sự trưởng thành của thị trường nội địa. Quan trọng hơn là sự chuyển biến trong nhu cầu thưởng thức của công chúng đối với các bộ phim sản xuất trong nước, nhất là những tác phẩm khai thác đề tài lịch sử, phong tục tập quán hay những câu chuyện mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam.
Tuy nhiên, sự khởi sắc của thị trường không đồng nghĩa với việc điện ảnh đã trở thành một ngành công nghiệp văn hóa thật sự. Từ kinh nghiệm quốc tế, sức mạnh của một nền điện ảnh không chỉ được đo bằng doanh thu phòng vé mà còn cần có khả năng hình thành chuỗi giá trị bền vững, tạo ra việc làm, thúc đẩy các ngành kinh tế liên quan, mở rộng ảnh hưởng văn hóa và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Tiến sĩ Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm: Điện ảnh Việt Nam vẫn chưa hình thành được hệ sinh thái đủ mạnh để vận hành như một ngành công nghiệp văn hóa hiện đại. Nhiều điểm nghẽn tồn tại trong thời gian dài vẫn chưa được tháo gỡ triệt để, từ cơ chế chính sách, nguồn lực đầu tư đến hạ tầng sản xuất và khai thác tài sản trí tuệ.
Thị trường hiện vẫn phụ thuộc khá nhiều vào một số nhà sản xuất, đạo diễn hoặc thương hiệu cá nhân. Không ít bộ phim thành công mang tính hiện tượng, nhưng tỷ lệ dự án thua lỗ vẫn ở mức cao. “Vòng đời” của nhiều tác phẩm thường kết thúc rất nhanh sau khi rời rạp. Giá trị của bộ phim chưa được tiếp tục khai thác thông qua các hình thức như bán bản quyền quốc tế, sản phẩm phái sinh, trò chơi điện tử, hoạt động trải nghiệm văn hóa hay phát triển du lịch gắn với địa điểm quay phim.
Thực tiễn các quốc gia cho thấy điện ảnh chỉ thật sự “cất cánh” khi được đặt trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa tổng thể. Thành công của một bộ phim không dừng lại ở doanh thu bán vé mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa đối với du lịch, thời trang, âm nhạc, ẩm thực, quảng bá hình ảnh quốc gia…
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định điện ảnh là một trong những lĩnh vực công nghiệp văn hóa cần tập trung phát triển có trọng tâm, trọng điểm, hướng đến xây dựng một nền điện ảnh tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có sức cạnh tranh trong khu vực và từng bước vươn ra thế giới. Định hướng đúng đắn này cần được triển khai với tư duy hệ thống.
Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển điện ảnh thành một ngành công nghiệp văn hóa chủ lực, cần sớm hoàn thiện hệ sinh thái phát triển đồng bộ, từ phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng, cho đến những cơ chế ưu đãi đầu tư và môi trường pháp lý thuận lợi, tạo điều kiện để ngày càng có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất.
Song song đó, thúc đẩy liên kết giữa điện ảnh với du lịch và các ngành công nghiệp sáng tạo khác, tăng cường cơ chế phối hợp hiệu quả giữa ngành văn hóa, du lịch, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Ở tầm vĩ mô, phát triển điện ảnh cần được nhìn nhận trong chiến lược xây dựng sức mạnh mềm quốc gia, trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sáng tạo, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc và nâng cao vị thế Việt Nam trên bản đồ văn hóa toàn cầu.
Theo nhandan.vn


