Phù sa nương náu

Thứ Năm, 05/11/2026, 06:17 (GMT+7)
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên

Bữa nọ, tôi về ngồi bên sông. Ký ức xưa trỗi dậy bồi hồi, thấm đẫm vị phù sa. Bây giờ đang thu, kịp nhớ ra, đã lâu lắm rồi tôi không về lại bến sông bằng cảm xúc của một người nhà quê thực thụ. 

Sông quê mùa phù sa về lại.

Tôi sinh ra ở làng quê, rồi hành trình cuộc sống đưa tôi dần xa lũy tre, bến nước, ruộng đồng. Tôi yêu sông, thương quê nội bình lặng bốn mùa cây trái, lúa thóc, cá tôm đượm vị phù sa. Sông quê tôi có đời sống riêng của nó. Mùa khô, nước kéo nhau đi. Những bãi bồi quánh đặc dưới nắng trời gay gắt. 

Đám trẻ trong xóm í ới gọi nhau bỏ cả giấc trưa, bày trò trên bãi. Cả bọn ì ạch tha tấm ván ngựa của nội xuống bến sông. Từng đứa lần lượt nằm nhoài trên ván. 

Đất bãi mịn màng, bóng loáng trong nắng trưa theo vết trượt của lũ trẻ. Tiếng nói cười lẫn vào những tấm thân đen trần, bê bết sình non. Trò chuồi ván trên sình thật là hấp dẫn nếu không kéo theo những trận đòn và la rầy của người lớn, vì trốn giấc trưa. Và còn nhiều lắm những cuộc vui mộc mạc của trẻ nhà quê. 

"Ta về làm khách sông Tiền
Nơi ta lội tắm đầu tiên trong đời
Nước xanh nước đỏ lở bồi
Nước về biển chở mồ hôi đồng bằng…"

Ở miệt này, nước rủ nhau đi rồi lại kéo nhau về. Chúng xoay vần theo tuần trăng đầy khuyết. Cuối hè, những cơn mưa ngập chìm giữa ngàn xanh cây lá. Từ thượng nguồn Mê Kông, con nước nhớ dòng tuôn trào mải miết. Chị tôi ngồi mé cầu dừa, chân khỏa nước mơ màng với mấy câu thơ con cóc: “Lũ tràn từ bến sông quê, thủy triều lỗi nhịp vỗ về phù sa…”. 

Giọng con gái miền Tây chơn chất tan vào gió chiều đẫm mùi rơm rạ, cỏ cây. Con nước mùa này lớn nhanh, có thể “đếm” được từng ngày theo con sóng ngầu đặc phù sa màu đất. Huyết mạch thiên nhiên cần mẫn bồi đắp cho cả vùng châu thổ. 

Nội tôi nhìn tổ ong vò vẽ cao chót vót trên cây me già, giọng bà nhuốm vẻ âu lo: “Con nước năm nay lớn dữ nghen”. Người quê đúc kết rằng: Vò vẽ có khả năng “dự báo thời tiết”. Năm nào lũ lớn chúng sẽ làm tổ trên cao để… tránh nước.

Trời đất chuyển thu cũng là lúc những cánh đồng vào mùa nghỉ nước. Những bờ kinh ngủ vùi giữa mênh mông. Xa xa, đám ruộng cắt trễ cũng đã kịp chở lúa về nhà. Bông súng ma bắt đầu trở giấc, thả những chiếc lá diệp lục nhỏ xinh bềnh bồng theo sóng. 

Không lâu sau lá già, đám bông trắng chơi trò trốn tìm ngoi lên khỏi mặt sóng. Như giống lúa trời, nước lũ dâng đến đâu, thân bông súng ma vươn dài đến đó. 

Chúng bung cánh vào sớm mai, rồi khép lại khi nắng trưa reo cười trong gió. Dọc theo những bờ kinh, điên điển thi nhau thắp nắng vàng đồng. Nước bén đến nửa chạc cây, vạt bông vàng càng lung linh trên sóng. Gió đồng mùa này lồng lộng, chúng hào phóng đem hương tràm vương vãi khắp nơi. 

Những rặng cây phía xa lam mờ, mênh mông biển nước sánh màu phù sa. Những chiếc xuồng giăng câu, bủa lưới trên đồng mặc nắng, mặc mưa chèo chống cần mẫn suốt mùa mưu sinh vất vả. 

Qua lăng kính của mình, cố nhà văn Sơn Nam từng viết về miền Tây từ những điều rất thật và gần gũi như đất, nước và công cuộc khai phá, mưu sinh của tiền nhân.

Trong văn chương hôm nay, phù sa đã đi xa hơn cái nghĩa của một vùng đất màu mỡ. Một tác giả trẻ nhìn nhận rằng phù sa là “phúc lành” mà dòng sông chở nặng. Có lẽ, trong tâm thức nhiều người con đồng bằng, phù sa đã bện thành nỗi nhớ khi đi xa. Phù sa cũng hóa thành “mùi hương” trong tâm thức, đủ sức gọi thức ký ức quê nhà. 

Sông cần mẫn trăm năm đem phù sa bồi lắng đất đai, bờ cõi. Người cần mẫn chịu thương, chịu khó cùng đất đai làm nên mùa màng, của cải. Nghèo khó, gian lao cũng dần được đẩy lùi, cuốn trôi sau những mùa phù sa hóa trái ngọt cây lành.

Ký ức về những năm tháng thiên nhiên hào phóng ngỡ còn đó nhưng đã có nhiều đổi thay, biến chuyển. Cánh đồng mùa lũ giờ không còn quá mênh mông bởi những vùng đê bao chằng chịt. Gió chướng không còn dữ dội trên những cánh đồng mênh mông xa tít chân trời. 

Gió theo mùa rong ruổi qua những cụm tuyến dân cư, những vùng quy hoạch nuôi cá da trơn xuất khẩu và những con đường quê tăm tắp cây xanh, thẳng hàng điện lưới. 

Những triền sông giờ cũng không còn hoang vu lau sậy. Nơi nào có thể nuôi trồng, làm ăn buôn bán, xây dựng nhà máy đều được bà con tận dụng tối ưu.“Nhứt cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ” là câu thành ngữ ông bà xưa đúc kết vẫn còn giá trị tới ngày nay. 

Những nẻo đường phù sa oai hùng trong kháng chiến năm xưa, giờ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vùng châu thổ. Từ phù sa nuôi nấng, những thế hệ cư dân đã chung sức dựng xây vùng đất Chín Rồng. 

Từ phù sa và sự chắt chiu, tần tảo của người nông dân, hàng triệu tấn lương thực, nông sản đi khắp thế giới. Việt Nam không còn là “ngôi sao mới” mà đang ở “chiếu trên” của thị trường nông sản toàn cầu. Góp vào sản lượng và giá trị lớn lao ấy nhiều phần bắt nguồn từ những dòng phù sa miệt này.  

Truyền hình tỉnh nhà từng có một phóng sự ấn tượng về lắng nghe “tiếng đất”, tìm cách cho đất hồi sinh sau bao năm tháng nuôi nấng trái ngọt cây lành. 

Đó là câu chuyện gian truân để khôi phục vùng chuyên canh đặc sản quýt hồng. Hình như đã có lúc người ta vô tình quên rằng màu mỡ đất đai không phải là vĩnh cửu. Ngày nay còn nhiều câu chuyện đau đáu khác về biến đổi khí hậu, sạt lở, cạn dòng, xâm nhập mặn… 

Sự “dỗi hờn” từ thiên nhiên và thưa vắng những mùa phù sa đặt ra nhiều câu hỏi, ngẫm suy và hành động thiết thực trên hành trình phát triển. Hào sảng vốn có từ đất đai, thổ nhưỡng miệt này rồi cũng dần phai trong sự lãng quên, hờ hững. Cho và nhận giữa con người với thiên nhiên phải chăng cũng cần sự tôn trọng, chắt chiu giữ gìn, nương náu cùng nhau? 

Tôi ngồi xuống bờ sóng lăn tăn trong ánh trăng thu trong trẻo. Khỏa tay vào dòng nước lấp loáng, những hạt phù sa mịn màng đọng lại trên từng ngón tay. Cảm nhận sự mát lành, dịu êm thân thuộc. Chừng như phù sa đồng điệu cùng tôi qua những vần lục bát dạt dào cảm xúc của họa sĩ Đặng Ca Việt:

“Ta về làm khách sông Tiền
Nơi ta lội tắm đầu tiên trong đời
Nước xanh nước đỏ lở bồi
Nước về biển chở mồ hôi đồng bằng…”.

NGUYỄN PHẠM ĐÌNH THẢO

Bình luận