"Trăng lặn cửa sông": Chuyển động tinh tế của cảm xúc
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
(ĐTO) Tập thơ "Trăng lặn cửa sông" là tác phẩm thứ hai của nhà thơ trẻ Phan Đại Duy, đánh dấu hành trình sáng tác bền bỉ khi liên tiếp cho ra đời các tác phẩm trong vòng hơn hai năm trên văn đàn thơ Việt.
Nhà thơ trẻ 10X Phan Đại Duy (bút danh Đại Duy), sinh năm 2004 tại phường Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long, hiện là sinh viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ Văn - Trường Đại học Đồng Tháp.
Từ giảng đường sư phạm đến thơ tự do
Xuất phát từ giảng đường sư phạm, Đại Duy sớm lựa chọn thơ tự do như một hình thức thể hiện tiếng nói cá nhân của thế hệ nhà thơ trẻ. Bắt đầu sáng tác từ năm 2023, Đại Duy đã sở hữu khối lượng tác phẩm thơ đáng chú ý so với độ tuổi.
Những sáng tác đầu tiên đánh dấu tên tuổi Đại Duy trên văn đàn Việt Nam là "Dừa ơi! Ta gọi tên và Trở về", được đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ Đồng Tháp năm 2023.
"Trăng lặn cửa sông" - dấu ấn khẳng định khả năng sáng tác bền bỉ
Tính đến nay, Đại Duy xuất bản hai tập thơ độc lập gồm: "Mùa thương" (NXB Lao Động, 2024), "Trăng lặn cửa sông" (NXB Hội Nhà văn, 2025), khẳng định sức viết bền bỉ của một nhà thơ trẻ thế hệ 10X.

Sự đồng nhất giữa con người và thơ ca
Trong hành trình sáng tác, Đại Duy không đối lập đời sống cá nhân và thế giới thơ ca. Với anh, thơ không chỉ là phương tiện biểu đạt cảm xúc, mà còn là một phần hiện hữu của đời sống nội tâm, nơi con người và ngôn từ hòa quyện làm một.
Ở tập thơ "Trăng lặn cửa sông", dấu ấn cá nhân của nhà thơ trẻ Đại Duy thể hiện rõ qua cái “tôi” trữ tình trong những trải nghiệm đời thường: Ký ức quê nhà, những chuyển động tinh tế của cảm xúc và cảm thức cô đơn, chiêm nghiệm của tuổi trẻ.
Thơ ca trở thành không gian để Đại Duy đối thoại với chính mình và thế giới xung quanh.

Lựa chọn thơ tự do, Đại Duy không bị ràng buộc bởi các khuôn mẫu hình thức, mà chú trọng vào dòng chảy cảm xúc và nhịp điệu nội tâm. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, gần gũi nhưng ẩn chứa chiều sâu suy tư, phản ánh sự trưởng thành trong tư duy nghệ thuật của một nhà thơ thế hệ 10X.
Chính sự đồng nhất giữa con người và thơ ca tạo nên bản sắc riêng trong sáng tác của Đại Duy, lý giải vì sao anh liên tiếp cho ra đời các tập thơ mang dấu ấn cá nhân rõ nét, khẳng định sức viết bền bỉ trên văn đàn thơ Việt.
Cảm nhận “Trăng lặn cửa sông”
Trong dòng chảy của thơ ca trẻ đương đại, việc định hình phong cách riêng không chỉ nằm ở khả năng sử dụng ngôn từ, mà còn ở bản lĩnh xây dựng một thế giới nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân.
Với bài thơ "Trăng lặn cửa sông", Đại Duy thể hiện tư duy nghệ thuật nhất quán, giàu góc cạnh, không né tránh tổn thương hiện sinh. "Trăng lặn cửa sông" là tập thơ của Đại Duy gây ấn tượng bởi được kết tinh từ chất liệu văn hóa Nam bộ.
Những bài thơ trong tập thơ đều mang những dấu ấn nghệ thuật giá trị: Sáng tạo hình ảnh mang tính dung hợp giữa truyền thống địa phương và cảm xúc hiện đại, cùng phong cách thi ca cá nhân đặc trưng mà vẫn gợi mở nhân sinh phổ quát.
Nhiều tác phẩm tiêu biểu như: "Giao mùa lập thể", "Sau bão", "Con vẽ Đất nước bằng màu xanh lá cây", "Thăm Đồ Bàn", "Lời thú tội của con chuồn chuồn"... không chỉ thể hiện kỹ năng thơ mới mẻ, mà còn khơi mở nhiều suy tưởng sâu sắc về cuộc sống.

Trong Giao mùa lập thể, tác giả sử dụng hình học không gian để diễn tả khoảnh khắc chuyển mùa:
“Gió bay dọc theo chiều xoáy của dải Ngân hà
Trái đất ngả nghiêng một góc hai ba độ rưỡi
Là lúc mùa chớm chuyển mình
Một cú nháy mắt của vũ trụ cũng đủ làm cánh bướm rối loạn”.
Cách nhìn vừa khái quát vũ trụ, vừa nhân hóa thế giới đã tạo nên cái nhìn “lập thể” về thiên nhiên. Những cụm từ thuộc về vật lý như “dải Ngân hà”, “độ rưỡi”, “bản giao hưởng chưa kịp hòa âm” mở ra phương thức biểu đạt mang tính hiện đại.
Cơn mưa trong thơ không rơi thẳng, mà “uốn cong, rẽ nhánh”, ánh sáng cũng không còn tuân thủ trật tự…, tất cả tạo nên một “lập thể trời” rất riêng, phi tuyến tính.
Nếu ở Giao mùa lập thể, người đọc thấy sự bùng nổ về cấu trúc và liên tưởng giữa đời sống, toán học và văn học thì đến "Trăng lặn cửa sông", Đại Duy dẫn dắt độc giả vào cuộc tự thoại trực diện với bản ngã.
Lựa chọn thơ tự do, bài thơ vận động theo dòng cảm xúc nội tại dồn dập, tạo cảm giác vết thương bị xé rách trong nhịp điệu câu chữ. Tác giả tạo ra đối lập chủ ý bằng câu ca dao: “Ai về đến bến sông quê/Nhớ con thuyền nhỏ, tình quê mặn nồng”.
Nhưng cửa sông trong thơ Đại Duy không mở ra như vòng tay che chở mà “mở há toạc như vết thương cũ”, phơi bày những đổ vỡ không thể hàn gắn.
“Tôi đã thấy trăng
Không phải cái trăng êm như ru ngủ
Mà trăng đỏ quạch, gằn giọng trên mỏm trời…”
Biểu tượng trăng vốn quen thuộc trong thi ca cổ điển được tái tạo thành hiện thân của nỗi đau và sự lạnh lùng. Trăng không còn để ngắm hay mộng mơ, mà hiện lên như lưỡi dao sắc lạnh, vừa đẹp vừa nguy hiểm, tạo nên màu sắc riêng trong sáng tác của Đại Duy.
Tác giả từ chối dùng nghệ thuật như công cụ xoa dịu nỗi đau. Hình ảnh gần gũi như dòng phù sa đỏ nặng, cánh đồng thôn dã mở ra không gian sự thật về những mối tình đã qua, lời hứa vô chủ và ký ức không thể níu giữ. Dòng sông vẫn chảy nhưng không trả lời câu hỏi nào, biểu tượng cho sự trôi đi không cưỡng nổi của thời gian và số phận.
LAN MINH


