Từ vị thế đối ngoại đến năng lực phát triển
Theo dõi Báo Đồng Tháp trên
Trong một thế giới biến động nhanh, vị thế quốc gia không chỉ được đo bằng mức độ hiện diện trên trường quốc tế, mà ngày càng được kiểm chứng bằng khả năng biến những cơ hội đối ngoại thành nguồn lực phát triển. Với Việt Nam, câu hỏi quan trọng của giai đoạn mới không còn chỉ là mở thêm bao nhiêu cánh cửa, mà là có đủ năng lực để bước qua những cánh cửa đó.
Những thông điệp mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu trong chuyến công tác tại Hoa Kỳ và Canada, tham dự phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 81 vừa qua, gợi mở một vấn đề có ý nghĩa chiến lược: Trong bối cảnh cạnh tranh, phân mảnh kinh tế, rào cản thương mại - công nghệ và suy giảm lòng tin gia tăng, Việt Nam phải biến vị thế quốc tế được tạo dựng qua nhiều thập niên thành năng lực phát triển thực chất.
Đây là sự chuyển đổi quan trọng trong tư duy về đối ngoại; mở rộng quan hệ và không gian phát triển; tạo dựng lòng tin và hợp tác; cam kết và có năng lực thực hiện cam kết.
Sau hơn 40 năm đổi mới, Việt Nam đã có thế và lực, tiềm năng, uy tín, vị thế quốc tế mới, nhưng vị thế tự thân không tạo ra tăng trưởng. Một khuôn khổ hợp tác chỉ thực sự có giá trị khi tạo thêm thị trường, công nghệ, tri thức, vốn, việc làm và năng lực cạnh tranh.
Một cơ hội đầu tư chỉ thực sự trở thành động lực khi doanh nghiệp trong nước có khả năng tham gia, người lao động có khả năng đáp ứng và nền kinh tế có khả năng tiếp thu công nghệ.
Vì thế, phía sau mỗi cánh cửa đối ngoại được mở ra là một yêu cầu rất cụ thể đối với năng lực trong nước. Không có thể chế thông thoáng, nguồn nhân lực chất lượng cao thì cơ hội sẽ bị giữ lại, công nghệ khó chuyển hóa thành năng suất, doanh nghiệp không đủ sức lớn mạnh trong chuỗi giá trị thì dòng vốn và thị trường khó tạo ra giá trị gia tăng tương xứng. Không có năng lực thực thi, những thỏa thuận tốt đẹp vẫn có thể chỉ dừng lại ở trên bàn đàm phán.
Đó cũng là lý do mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030, không nên nhìn đơn thuần như một chỉ tiêu về tốc độ.
Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đã đặt mục tiêu này trong một tổng thể rộng hơn: Hoàn thiện thể chế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nói cách khác, muốn tăng trưởng nhanh hơn, trước hết phải tạo ra một nền kinh tế có năng suất cao hơn.
Đây chính là nơi câu chuyện đối ngoại gặp câu chuyện phát triển. Việt Nam đang đứng trước một không gian hợp tác rộng hơn, nhưng đồng thời cũng đứng trước yêu cầu cao hơn về năng lực và sức cạnh tranh.
Đảng ta xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng, với những mục tiêu cụ thể về năng lực công nghệ, năng suất nhân tố tổng hợp và tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao.
Do đó, bài toán của giai đoạn này không phải là lựa chọn giữa mở cửa với thế giới hay phát huy nội lực. Hai yêu cầu ấy phải được đặt trong cùng một chiến lược: Mở cửa để huy động nguồn lực bên ngoài, đồng thời nâng cao nội lực để tiếp nhận và làm chủ nguồn lực ấy.
Đối ngoại có thể đưa đất nước đến những không gian mới. Nhưng chính năng lực trong nước mới quyết định Việt Nam đi được bao xa trong những không gian đó.
Điều này đặt ra yêu cầu rất thực tế đối với từng cấp, từng ngành, từng doanh nghiệp và từng địa phương: Sau một chuyến thăm là một thỏa thuận, một cam kết hay một khuôn khổ hợp tác, câu hỏi cần đặt ra là đã có chương trình gì, dự án gì, doanh nghiệp nào tham gia, công nghệ nào được chuyển giao, năng suất nào được nâng lên và người dân được hưởng lợi như thế nào? Đó mới là thước đo cuối cùng của hiệu quả đối ngoại.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, vị thế quốc gia không nên được hiểu như một đích đến. Vị thế phải trở thành vốn để tạo ra năng lực; năng lực phải trở thành sức cạnh tranh và chuyển thành kết quả phát triển; cuối cùng là nâng cao đời sống Nhân dân, đó là thước đo của một Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
HÀ LÊ


